HT.Thích Trí Tịnh: Một đời tu Tịnh Độ

Đại lão Hòa Thượng Thượng Trí Hạ Tịnh – Đệ nhất Phó Pháp chủ, Chủ tịch Hội Đồng Trị Sự Gíao Hội Phật Giáo Việt Nam – là bậc Tòng lâm thạch trụ và là một trong những đại dịch giả của Phật giáo Việt Nam. Mặc dù tinh thông cả Thiền lẫn Giáo, song Hòa thượng một đời chuyên tâm hành trì pháp môn Tịnh độ và luôn luôn khuyến tấn Tăng Ni, Phật tử ăn chay, giữ giới, niệm Phật…

Những lời dạy của Hòa thượng về pháp tu Tịnh độ

“Pháp môn trì danh niệm Phật đơn giản lắm”, HT nói. “Trước hết, luôn luôn phải có lòng tin. Tin ở nơi lời giới thiệu của Đức Phật Thích Ca về Cực Lạc thế giới của Đức Phật Di Đà là chơn thật; tin vào y báo, chánh báo của cảnh giới ấy, vì đó là chỗ mà tất cả chúng sanh và các bậc Thánh đều phải nên về. Do là y báo, chánh báo của cảnh giới Cực Lạc có thể đưa mình đến nơi bậc thánh, thành Phật chứ không ngưng trệ hay do duyên gì mà thối lui. Tiếp theo là tin nơi Pháp mà Phật Thích Ca đã dạy, phải như thế nào thì mới có thể về cảnh giới Cực Lạc”.

“Có nhiều cách để vãng sanh Cưc Lạc, song cách trì danh là đơn giản nhất. Bởi theo danh tự mà niệm thì dễ, còn quán tưởng thì trí lực của người rất khó đến. Muốn ở nơi sự quán tưởng đúng theo kinh nói thì các bậc hiền thánh mới có thể thực hiện được. Trong khi trì danh thì dẫu kẻ phàm phu, tục tử vẫn có thể niệm, cứ đúng theo Nam mô A Đi Đà Phật mà hành trì”.
“Quý huynh đệ thấy, nếu quán về 32 tướng tốt của Phật, ngay chỉ tướng lông trắng giữa chặn mày của Phật A Di Đà thôi cũng đã lớn bằng năm hòn núi Tu Di, như vậy thì làm sao nghĩ tới? Ở đây, ánh sáng lại tỏa ra khắp mười phương. Còn cặp mắt của ngài thì bằng bốn đại hải – đại hải đó không phải như ở biển ta, biển ở ta so ra thì chỉ là một cái cù lao – tưởng tượng sao nổi?”

“Cái tướng lông trắng đó của bất kỳ vị Phật nào, nếu kéo thẳng ra thì cũng đều đụng tới gót. Mà theo kinh, bề cao của thân Phật Di Đà là 60 muôn ức Na do tha số các sông Hằng (theo luận Câu xá thì một Na do tha bằng khoảng 100.000 tỷ – GN) – một hột cát được tính là một do tuần (khoảng 15-20 km), cộng lại là ra chiều cao thân Phật. Thử nghĩ, một sông Hằng có bao nhiêu hột cát, bao nhiêu do tuần? Mà thân ngài cao đến 60 muôn ức na do tha số cát sông Hằng! Do đó, tướng lông trắng đó cũng dài tương đương như vậy, xoắn tròn lại to bằng năm hòn núi Tu Di”.

Đó không phải là cách nói tượng trưng đâu, mà Phật Thích Ca nói đúng thiệt như vậy. Nếu chỉ quán tưởng thân ngài cao như tượng mình thờ thì không chính xác. Còn nếu quán thật tướng chân như lại càng khó hơn nữa. Dù cũng có người làm được, nhưng chỉ là những bậc hiền thánh hiện thân. Do vậy, trì danh được xem là thấp nhất và dễ nhất. Mình đang đi bộ hay đi trên  xe  niệm Phật cũng được. Mình đang đứng ngắm cảnh cũng niệm được. Mình đang ngồi làm việc cũng niệm được và khi mệt mỏi quá nằm niệm cũng được. Chỉ trừ lúc nói chuyện là không niệm được thôi!”

Trì danh nói là thấp song hành trì không dễ. Phải tin thực sâu, nguyện thực thiết và công hạnh phải chuyên cần thì mới hiệu nghiệm, nếu không thì cảnh khác chen vô phá hết. Khi niệm thì tâm và tiếng phải hiệp khắn nhau. Nghĩa là tâm phải duyên theo tiếng, tiếng phải ở trong tâm, đừng để nó xao lãng theo một tiếng gì khác, hễ nó rời ra thì phải kéo nó lại. Muốn được vậy, tiếng niệm phải cho rõ ràng, rành rẽ. Niệm như vậy phải chuyên cần, phải nhiều thời gian, phải đều đặn, phải tinh tấn lắm mới đắc lực. Khi niệm đã đắc lực thì tự nhiên trong tâm mình nổi lên tiếng niệm Phật mà mình không cần đề khởi, không cần nghĩ đến nó vẫn tự niệm. Ban đầu thì lúc được lúc mất, được thì ít mà mất thì nhiều. Cố gắng thêm thì được nhiều mất ít, cho đến khi không còn gián đoạn nữa thì gọi là niệm lực tương tục. Và như vậy mới đúng nghĩa “chấp trì danh hiệu”. Đó mới là nhơn của niệm Phật tam muội. Được vậy thì sự vãng sanh mới bảo đảm”.

“Tôi nói với mấy huynh đệ về chữ “chấp trì danh hiệu”. Chấp nghĩa là cầm, còn trì là giữ lại. Giống như tôi nắm quyển sách không buông ra vậy, hễ bỏ ra là không trì. Khi mình xưng danh hiệu ‘Nam Mô A Di Đà Phật’, làm sao trong tâm mình chỉ có ‘Nam Mô A Di Đà Phật’ mà thôi. Đừng có cái gì khác, đừng cho một niệm gì xen vào hết. Trong lúc niệm Phật mà còn niệm những thứ khac nữa thì không phải niệm Phật. Nếu chấp trì được danh hiệu như Phật Thích Ca nói thì nhất định vãng sanh. Làm không đúng thì không có kết quả. Lời Phật nói không khi nào sai cả, chỉ tại mình hiểu chưa đúng, mà khi hiểu đúng thì cũng không hẳn đã làm đúng”.

“Cũng có nhiều người đến than thở với tôi là muốn giữ cái tâm lại, nhiếp tâm để chấp trì danh Phật mà làm hoài nó vẫn cứ chạy. Vì cái chạy đó nó quen lâu năm rồi. Không phải lâu năm trong đời này, mà nó đã lâu năm trong nhiều đời trước nữa. Cho nên, mình phải cột, phải nắm lại, rồi lần lần ‘cột nắm’ cũng dần quen. Khi đứng lại thì nó cũng quen đứng luôn. Vậy nên, phải thật chịu khó để đạt nhất tâm bất loạn, tức niệm Phật tam muội. Trong Quán kinh nói, lúc Phật Di Đà hiện tiền thì các Phật khác cũng hiện tiền. Hiện tiền là hiện ra trước mắt chứ không phải chiêm bao”.

Hòa thượng nói thêm: “Khi dịch các kinh điển Đại thừa khác, tôi thấy trong các kinh đó đều có nói đến cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Như trong kinh Hoa Nghiêm, ngay cả các vị Đại Bồ tát nhập Bất khả tư nghì Giải thoát cảnh giới, khi các vị ngồi kề bên Phật còn khuyên với nhau xả bỏ thân này để về Cực Lạc, bởi duyên Cực Lạc khó có nước nào bằng. Vậy nên, chúng ta hãy chuyên tâm niệm Phật”.

Trích nguồn Giác Ngộ Online:

http://giacngo.vn/lichsu/2008/10/14/564013/

Ý nghĩa vãng sanh

Báo Giác Ngộ Online

Thích Viên Giác

 

Thế giới mà chúng ta đang sống luôn bất an, bất toàn và tạm bợ mà trong kinh A Di Đà gọi là trược thế. Kiếp nhân sinh đầy ô trược và tai nạn: mưa gió trái mùa, bão lụt, động đất, sóng thần, hạn hán, biến đổi khí hậu gọi là kiếp trược.

Con người thì luôn bị bản năng dục vọng chi phối điều động, luôn bất an, bức xúc, từ chuyện làm ăn, tạo dựng địa vị xã hội cho đến tình nghĩa vợ chồng con cái đều nóng bức như cái lò lửa, gọi là phiền não trược. Nhận thức của con người thì đầy những sai lầm về những giá trị sống, coi trọng tiền tài hơn tình nghĩa, vật chất hơn tinh thần, lấy sự lừa đảo dối trá như là lẽ sống được nhiều người chấp nhận, coi đó là khôn ngoan, thông minh, biết sống…, gọi là kiến trược hay văn hóa trược. Mạng sống con người luôn bị đe dọa bởi tai ương hoạn nạn, bệnh tật nan y, môi trường sống trở thành tác nhân nguy cơ của sinh mệnh, tuổi thọ không cao, gọi là mạng trược. Con người xã hội cũng đầy phức tạp bất an, ích kỷ hại nhân đến nỗi người xưa đúc kết lại như là một thái độ sống đừng tin tưởng vào một ai:“Dò sông, dò biển dễ dò/Nào ai bẻ thước mà đo lòng người”, đó gọi là chúng sanh trược. Sự xấu ác hiện hữu trong mọi góc cạnh của cuộc sống nên kinh Phật gọi thế giới này là ngũ trược ác thế.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy các Phật tử cần có cái nhìn rõ về bản chất của đời sống. Ngài dạy: “Nhìn đời như bọt nước/Nhìn đời như ảo ảnh/Hãy nhìn đời như vậy/Thần chết không bắt gặp” (PC,170). Đây là một phương pháp quán chiếu về thực chất của cuộc đời để vượt qua thế giới trược uế này, cách nhìn thế giới là ô trược trong kinh A Di Đà cũng có tác dụng “Thần chết không bắt gặp” như vậy. Sự nhận thức đưa đến thấy rõ sự thật bao giờ cũng có tác dụng giải thoát khỏi các ảo ảnh. Thông thường ta sợ hãi vì ta không thấy rõ, khi thấy rõ rồi thì không còn sợ nữa, giống như khi ở trong một căn phòng tối, ta cảm thấy sợ hãi nhưng khi bật đèn sáng thì ta không còn sợ nữa, lý do đơn giản là vì ta thấy rõ sự vật nên nỗi sợ tan biến. Cũng vậy, khi quán chiếu về thế giới nếu thấy rõ thực chất của nó ta sẽ thoát khỏi sợ hãi, bất an. Không còn sợ cái chết nữa thì gọi là “Thần chết không bắt gặp”. Ta không sợ chết do: Một là, biết rõ sự chết là quy luật tất yếu không ai tránh được, đây là một định luật, sợ cũng vô ích nên không sợ nữa mà có thể sống chung với chúng. Hai là, sự tham muốn bám víu vào đời sống không còn mạnh nên thoát ra mọi trói buộc của tham lam, chấp thủ; tâm đã không tham thì thoát khỏi vòng sống chết. Tiêu điểm của vấn đề là nhận thức đúng, còn gọi là tuệ quán. Khi thấy rõ thì không bị dao động, khi tâm không còn bị tác động bởi những thăng trầm của cuộc đời thì tâm đạt được bình an, tâm bình an thì thế giới bình an. Cách dùng tuệ quán để vượt qua sống chết có thể gọi đó là vãng sanh Tịnh độ theo đạo lý “Tâm tịnh độ tịnh” trong kinh Duy Ma.

Công thức giải thoát trong Kinh tạng Nguyên thủy, thường đề cập như sau: Biết rõ đưa đến nhàm chán, nhàm chán đưa đến ly tham, ly tham đưa đến đoạn diệt, đoạn diệt đưa đến Niết-bàn (Kinh Trung Bộ). Pháp môn Tịnh độ cũng có phương thức để đạt được vãng sanh Tịnh độ tương tự ở bước đầu: Trước hết, phải có cái nhìn về cõi Ta bà là uế trược và nhàm chán chúng, sau đó hướng tâm về thế giới trong lành mát mẻ của cõi Tịnh độ, tiếp theo là phát nguyện tha thiết nương vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà để thoát khỏi Ta bà, vãng sanh Tịnh độ. Căn bản của vấn đề là giác ngộ về bản chất của đời sống, chính sự giác ngộ ấy làm cho lòng tin được tăng trưởng và tâm nguyện của hành giả tương ứng với nguyện lực của Phật, đây là một công trình lớn lao và khó nhọc; vì vậy, không thể nói hành giả Tịnh độ hoàn toàn nương vào tha lực. Sự khác biệt về con đường tu tập trong đạo Phật không phải là sự khác biệt căn bản của lộ trình mà là sự khác biệt về xu hướng tâm thức hay còn gọi là sự khác biệt về căn tánh của chúng sanh.

Cõi Tây phương ở đâu? Trong một tác phẩm nghi lễ Phật giáo có hai bài kệ nói về Tịnh độ ở đâu, như sau:

1- “Mạc đạo Tây phương cận/Tây phương thập vạn trình/Di Đà thùy tiếp dẫn/Vô tử diệc vô sanh“. Tạm dịch: Chớ bảo cõi Tây phương là gần, hành trình về Tây phương xa xôi đến mười vạn dặm đường. Đức Phật A Di Đà thương mà tiếp dẫn mới giải thoát khỏi tử sanh.

2- “Mạc đạo Tây phương viễn/Tây phương tại mục tiền/Thủy lưu quy đại hải/Nguyệt lạc bất ly thiên”. Tạm dịch: Chớ bảo cõi Tây phương xa xôi, cõi Tây phương ở ngay trước mặt. Như nước chảy về biển cả, như trăng lặn không ra khỏi bầu trời.

Bài thứ nhất, nói lộ trình về Tịnh độ rất xa, con số tượng trưng là mười vạn dặm, cần được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn để đạt đến chốn không tử không sanh. Như vậy, yếu tố chính để về Tây phương là nhờ Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn. Bài kệ này nhấn mạnh về tha lực. Có sách lý giải rằng, đi về Tây phương phải trải qua 10 vạn dặm đường là tượng trưng cho 10 căn bản phiền não, mười vạn là nói đến những biểu hiện vi tế của 10 phiền não trên. Ý nghĩa là, khi chưa đi qua 10 căn bản phiền não thì Phật chưa tiếp dẫn được, phải vượt qua 10 vạn dặm phiền não thì cảm ứng được với Phật; hoặc có Phật tiếp dẫn thì mới đi qua được 10 căn bản phiền não, cả hai nghĩa đều đúng. Nhưng nghĩa thứ hai khiến người ta quan tâm hơn, vì phiền não quá nhiều nên để vượt qua chúng đòi hỏi nhiều công phu và thời gian, chưa kể chuyện bị lầm đường lạc lối, được Đức Phật tiếp dẫn đi và được sống trong môi trường thanh tịnh thì mới mau chóng và không lầm lạc, dễ dàng và chắc chắn.

Bài thứ hai, nói lộ trình về Tịnh độ không xa, thậm chí là rất gần, ngay trước mắt. Bởi lẽ, cõi Tây phương chính là cõi tâm của mình, cõi tâm ở đây chỉ cho bản tâm thanh tịnh của mỗi chúng sanh. Trăm sông đều về biển cả, sông thì nhiều và hẹp nhưng nơi có thể dung nhiếp tất cả là biển rộng mênh mông, cũng như trăng mọc rồi trăng lặn, dù mọc hay lặn trăng cũng không thoát khỏi bầu trời bao la. Biển cả mênh mông hay bầu trời bao la chính là cõi tâm thanh tịnh, là bản thể an bình của vạn loại chúng sinh. Phật cũng ở tâm, chúng sanh cũng ở tâm, có sự khác biệt về thể tướng nhưng không có sự khác biệt về thể tánh. Vậy, Tây phương chính là tâm thanh tịnh của mỗi người.

Nói Phật tại tâm hay nói Tâm tịnh độ tịnh là nói về lý lẽ, nhưng làm cho Phật hiển lộ ở trong tâm hay tâm được thanh tịnh để có cảnh tịnh, cần phải có công phu tu tập lâu dài. Con đường tu tập ấy có hai yếu tố cần thiết là: đúng chân lý và thiện tri thức trợ duyên. Điều này, không chỉ đúng trên con đường đạo mà đúng cả trong cuộc sống đời thường, nếu ta hoạt động mà không phù hợp với quy luật vận động thì sẽ thất bại và nếu hoạt động mà không có môi trường cũng như con người trợ giúp thì cũng thất bại. Hai bài kệ đều đúng vì nói lên hai yếu tố “lý” và “cơ” ở trên. Tâm phải tịnh thì cảnh mới tịnh là đúng chân lý, tịnh hay không tịnh do tâm. Nhưng nếu không có môi trường tu tập thuận lợi thì sự tịnh tâm khó bền vững, con người luôn có tính xã hội nên yếu tố tha lực đóng vai trò rất lớn trong vấn đề hình thành nhân cách và định hướng cuộc đời. Trên con đường tu tập ngoài nỗ lực cá nhân, nếu được Đức Phật và cộng đồng Thánh chúng trợ duyên thì sự thành tựu là chắc chắn.

Tóm lại, vãng sanh về Tịnh độ cần nhất tâm và có sự tiếp dẫn; khi có nhất tâm thì có cảm ứng tiếp dẫn của Phật, như người xưa thường nói: “Ái bất trọng bất sanh Ta bà/Niệm bất nhất bất sanh Tịnh độ”, cả hai yếu tố thực chất chỉ là một thôi. Mỗi người đều có khả năng làm hiển lộ Đức Phật trong tâm khi ta nhớ Phật, hướng tâm về Phật trong mọi hoạt động của mình. Và ý nghĩa của vãng sanh chính là đi qua cuộc sống ô nhiễm, sống với cuộc sống thanh tịnh an vui, từ ác thế chuyển hóa thành thiện thế bằng cách tịnh hóa cõi tâm.

 

Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 57 tại chùa Phổ Quang ngày 8-3-2009)

Vai trò người phụ nữ – HT. Thích Trí Quảng

Quý vị trong đạo tràng này  là những nam nữ Phật tử,  đương nhiên nam giới có  điểm ưu việt của phái nam và nữ giới cũng có những mặt tốt của phái nữ. Theo chủ trương của đạo Bà la môn tại Ấn Độ thời Đức Phật tại thế, nam giới được đề cao, còn nữ giới không được quan tâm. Và theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy, phụ nữ không được lãnh đạo; vì vậy, phụ nữ không được làm vua, không được làm Trời Phạm Thiên, không được làm Phật, vì phụ nữ có nhiều nghiệp chướng.

Đối trước bộ luật phân chia giai cấp ở Ấn Độ, Đức Phật đã đưa ra tinh thần bình đẳng. Nhiều người hiểu lầm ý này, nghĩ rằng tất cả mọi người sống trên cuộc đời đều giống nhau; nhưng thử nghĩ xem mỗi người có phước đức, trí tuệ, ngoại hình, hoàn cảnh sống … hoàn toàn khác nhau, thì làm sao mọi người giống nhau được. Vì vậy, chúng ta xác nhận rằng sự bình đẳng này là bình đẳng trên chân lý. Và Đức Phật đã khẳng định sự bình đẳng trên chân lý qua lời dạy rằng tất cả mọi người đều là Phật sẽ thành; nhưng con đường tiến đến thành Phật thì tùy theo mỗi người mà có sự nhanh chậm khác nhau, do quá trình tu tập hay quá trình chuyển hóa nội tâm khác nhau. Bao giờ chúng ta chuyển hóa được nội tâm, chuyển hóa được trí tuệ, chuyển hóa được phước đức, chuyển hóa được ngoại hình và chuyển hóa được đời sống một cách tốt đẹp viên mãn, chúng ta sẽ đạt được quả vị Phật.

Hiểu rõ như vậy thì vấn đề của chúng ta không phải là người nam hay người nữ, mà việc quan trọng là quá trình tu tập, chuyển hóa của mình. Đàn ông có ưu tính riêng, đàn bà cũng vậy; cho nên phải biết phát huy ưu tính của mình. Thực tế cho thấy một số danh nhân trên thế giới là phụ nữ vì họ biết phát huy sở trường của nữ giới. Nếu nam giới không phát huy được ưu tính của phái nam thì cũng chết như cỏ cây, vì không phải tất cả đàn ông đều trở thành anh hùng, trở thành Bồ tát.

Ý thức sâu sắc tinh thần Phật dạy, chúng ta cần có cái nhìn mọi người, mọi loài bình đẳng trên chân lý, hay nói cách khác, đứng trên chân lý mà nhìn diễn tiến của cuộc đời là đặc tính ưu việt của đạo Phật. Nhờ đó, chúng ta mới thấy được sai biệt tính của tất cả các loài hữu tình và chỉ có loài người là tối linh cao tột nhất so với các loài khác. Tuy nhiên, quán sát kỹ loài người, cũng thấy có người cao thượng, có người tầm thường, hay có người tâm hồn rất xấu ác. Vì vậy, Đức Phật dạy rằng trong vòng sinh tử luân hồi, tùy theo nghiệp mà chúng ta thay hình đổi dạng và thay đổi cuộc sống; nếu nhanh, chúng ta thay đổi tâm niệm trong từng sát na, còn chậm thì thay đổi trong từng kiếp sống khác nhau. Trong vòng xoáy của sinh tử luân hồi, chúng ta đã biến đổi rất nhiều hình dạng và cuộc sống. Điều này chúng ta thấy rõ trong thực tế cuộc sống hiện tại, có đàn ông mang tánh phụ nữ, nghĩa là ý niệm của họ khởi lên là ích kỷ, tham lam, hiểm độc, nói chung là tánh nhỏ nhặt của phụ nữ. Nếu để tâm niệm đó phát triển lâu thì người đàn ông đó sẽ hiện ra tướng đàn bà, vì tánh đàn bà trong họ đã có rồi. Trong xã hội này có những người như vậy, mà người ta thường gọi là PĐ, vì tánh đổi nên tướng đổi.

Chỉ trong một niệm tâm, chúng ta có thể đổi thành đàn ông, hay đàn bà, cho đến thành súc sanh, ngạ quỷ, A tu la. Nếu gặp việc trái ý, tánh sân hận chúng ta nổi lên là A tu la đã xuất hiện trong tâm mình và kéo dài tâm sân hận này thì hình dáng quỷ thần sẽ hiện ra trên nét mặt, trên lời nói, trên cử chỉ, hành động của mình. Trong các bạn đồng hành, đồng sự, tôi quan sát những người mà tôi quen thân thấy rõ có người hiền lành, dễ coi; nhưng vì hoàn cảnh xã hội thúc giục khiến cho tâm trạng họ bất an; từ chỗ bực tức, muốn làm theo ý riêng nhưng không được, cho nên tướng của họ đã thay đổi. Tướng dễ thương của thời thơ ấu, tướng hiền lành của thời học trò đã biến mất theo thời gian họ lăn lóc đấu tranh trên cuộc đời này. Như vậy, có thể khẳng định rằng một niệm tâm thay đổi từ tánh bên trong sẽ tác động đến hình dáng bên ngoài khiến người ta thay đổi thành đàn ông, hay đàn bà, thậm chí thành tướng súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ.

Đức Phật dạy rằng trong sáu nẻo sinh tử luân hồi, con người luôn luôn thay hình đổi dạng theo sự biến đổi của tâm niệm thiện ác và các vị Hiền Thánh cũng thoát ra từ sáu nẻo luân hồi sinh tử, kinh Pháp Hoa gọi là ra khỏi Nhà lửa tam giới. Trên bước đường tu, ý thức được sự thay đổi liên tục trong tâm sẽ đưa đến sự thay đổi tương ưng trong kiếp sống, chúng ta tập loại dần những tâm niệm ác của A tu la, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Và khi loại bỏ được những tánh ác của bốn loài này, chúng ta cũng vẫn hiện hữu trên cuộc đời, nhưng không có những tướng ác đó nữa vì tâm ác của bốn loài này đã được xóa sạch.

Tiến lên một bậc nữa, tâm tưởng chúng ta thường nghĩ đến chư Thiên, thúc giục chúng ta thực hiện những việc làm giống chư Thiên, thì tướng chư Thiên sẽ hiện ra trên nét mặt, trên thân tướng của chúng ta. Nếu ngồi Thiền, quán tưởng pháp Phật, chúng ta sẽ dần dần hiện ra tướng Thanh văn. Tướng Thanh văn là tướng thanh tịnh, hiền lành, trong sáng, nhờ đã loại trừ tất cả tánh xấu trong tâm.

Đức Phật dạy khởi đầu chúng ta tu hành, thực chất của hàng Phật tử tuy không hẳn là xuất gia, nhưng Ngài cho biết cũng có người đang đau khổ cùng cực mà nghe được giáo pháp và nhận thức đúng đắn yếu nghĩa của pháp Phật, hoặc tiếp nhận dược đạo lực của Hiền thánh, thì họ liền đắc sơ quả. Điển hình là Xá Lợi Phất khi chưa cạo tóc xuất gia nhưng gặp được Mã Thắng Tỳ kheo, tuy ngài chưa hề nói một lời nào với ông, mà ông liền đắc quả Tu đà hoàn; hoặc vua Tần Bà Sa La bị giam trong ngục được tôn giả Mục Kiền Liên đến giảng pháp, vua cũng được giải thoát ngay lập tức, đắc quả Tu đà hoàn.

Thực chất tu hành của người Phật tử là gì ? Tôi thường thực tập pháp quán tất cả mọi việc rồi cũng trôi qua; nói cách khác, chúng ta nên bỏ qua những gì đã xảy đến với mình, việc đã rơi vào quá khứ thì đừng kéo nó trở về hiện tại chi cho khổ. Nhiều Phật tử luôn sống trong tâm trạng buồn khổ, vì thích đem hình ảnh quá khứ vào cuộc sống hiện tại, trong khi hoàn cảnh của họ không còn giống như trước kia nữa; sống như vậy chỉ tự làm khổ mình, chứ chẳng ích lợi gì. Người ta thường nói “ Lực bất tòng tâm” là không làm được, nhưng suy nghĩ mãi khiến cho tâm bị dày vò.

Người Phật tử chân chánh luôn đứng trên điểm thời gian hiện tại, không lệ thuộc vào quá khứ và tương lai. Cố đạo hữu Võ Đình Cường nhận ra ý này viết rằng : “Ngồi trên thuyền thời gian, ta rong chơi trên biển không gian luôn biến đổi …”. Thuyền cứ đi khắp nơi, qua từng điểm, từng chỗ, chúng ta quan sát thấy mọi thứ đều rất đẹp. Không tiếc nuối quá khứ qua mất rồi, không hướng đến tương lai viễn vông, vì tâm niệm như thế chỉ là ảo giác. Đứng ở thời điểm bây giờ và tại đây, chúng ta nên làm gì và làm được gì thì cứ làm. Mặc dù những việc chúng ta làm đã trôi vào quá khứ, nhưng ác nghiệp hay thiện nghiệp mà chúng ta đã tạo tác vẫn hiện hữu trong tâm mình, không mất. Nhận ra cốt lõi này, chúng ta nỗ lực tu hành, đạt được tâm giải thoát và chính tâm thiện này đưa chúng ta ra khỏi lục đạo luân hồi sinh tử, kinh Pháp Hoa gọi là ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến bãi đất trống. Tâm chúng ta thoát ly ba cõi thì liền thâm nhập vào Niết bàn Không. Vì vậy, người được giải thoát phải trụ pháp Không, tiêu biểu là Ngộ Không, một trong ba đệ tử của Đường Tăng, mặc dù là khỉ nhưng đã nhận được tánh Không, nên trở thành vạn năng, một cao đồ của Ngài Huyền Trang. Người đệ tử thứ hai là Ngộ Năng, nghĩa là biết siêng năng đoạn trừ ham ăn, ham ngủ thì cuối cùng cũng thành Phật. Và người thứ ba là Ngộ Tịnh, tức ngộ bản tánh thanh tịnh, nên lúc nào cũng trầm mặc. Trên bước đường tu, chúng ta ngộ gì ? Ngộ Không, ngộ Năng hay ngộ Tịnh đều tốt.

Ngộ Không, ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống, bấy giờ Phật mới trao cho chúng ta pháp tối thượng là Pháp Hoa, hay đại bạch ngưu xa. Chúng ta hiểu Pháp Hoa là tâm sáng suốt thanh tịnh và làm được việc cứu độ chúng sinh, thì vạn năng. Tuy nhiên, muốn được như vậy, phải tỏ ngộ pháp Không; vì có tỏ ngộ lý Không thì tâm mới thanh tịnh được. Tâm còn nghĩ đủ thứ lăng xăng, làm sao thanh tịnh. Xả bỏ tất cả mọi việc, tâm vắng lặng, trống không là Niết bàn. Và từ tâm Không này, Phật mới trao cho chúng ta chân lý mà Ngài đã chứng ngộ. Nói cách khác, ngộ Không thì chúng ta mới hiểu Phật pháp. Còn đầy ắp dữ kiện trong tâm thì không thể nào thâm nhập Phật pháp, cho nên việc làm thường phạm sai lầm, tất nhiên phải thọ quả báo.

Tu Pháp Hoa, mong ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống để được Phật trao cho chân lý, nhưng chỉ mong cầu mà không làm thì suốt đời cũng không được gì, chỉ toàn đau khổ. Và chứng ngộ lý Không, được Phật trao cho chân lý, mới thấy việc đáng làm, việc không nên làm. Đứng ở đỉnh Không, nhìn lại quá khứ, thấy tự thương hại mình, vì làm quá nhiều nhưng chẳng được gì; đó là tu trong mộng.

Khi ngộ được tánh Không rồi, việc tu hành của chúng ta khác. Chúng ta  không còn phân biệt mình và người là nam hay nữ, không còn thấy mình và người bị khổ đau trong cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la; nhưng chúng ta là đệ tử Phật giải thoát ngay trên cuộc đời. Tâm giải thoát này thể hiện trong cuộc sống thực tế là chúng ta không còn buồn, giận, lo, sợ; vì nhận thức được mọi việc tốt xấu xảy ra cho mình, mọi  thiện ác đến với mình, tất cả  đều do nghiệp duyên quá khứ mà tạo thành hiện tại. Vì vậy, chúng ta không bận tâm nói phải trái, mà cần tìm cách giải quyết, chuyển đổi cho tốt đẹp. Chúng ta có lo thì việc cũng tới, chúng ta có sợ cũng không tránh được; vì làm sao trốn thoát những nghiệp quả đã thành. Nhiều người sợ chết, nhưng đã mang thân tứ đại thì chắc chắn đến một ngày nào đó, ai cũng phải chết. Không sợ thì thường tìm được cái chết có ý nghĩa; sợ mà chết thì sẽ chết trong đau khổ.

Còn buồn giận thì sao ? Người ta thường giận vì cho rằng mình bị thua thiệt. Thiết nghĩ, đối với việc đáng giận mà giận cũng là sự thất thoát lớn nhất cho mình, vì giận mất khôn. Chúng ta đã không đủ khôn rồi, lại còn để mất khôn nữa, quả là uổng phí, làm sao thắng được giặc. Đối với những gì đáng giận, chúng ta cũng phải tránh, đừng cho khởi lên; tránh mặt không được thì hãy cố gắng tránh lòng, bằng cách nhiếp tâm niệm Phật, không nghĩ đến người đối diện nữa, mà hãy nghĩ đến vị Phật nào chúng ta kính quý, thì lòng chúng ta cũng được yên ổn. Vì vậy, riêng tôi, thường đem Phật vào lòng để trấn át bốn tên giặc phiền não là buồn, giận, lo, sợ, nhờ đó tâm được an lạc.

Trụ tánh Không thì sáu đường sinh tử không có, làm gì có tướng nam nữ, tất cả đều là Không. Từ bể Không này, nếu chúng ta có nhân duyên căn lành với vị Phật, vị Bồ tát nào, các Ngài sẽ phóng quang gia bị cho chúng ta, hoặc hiện thân làm bạn đồng tu với chúng ta. Có thể khẳng định rằng thế giới Niết bàn Không này chỉ dành riêng cho chư Phật, chư Bồ tát và Thánh hiền.

Chúng ta tu tập, xả tánh phụ nữ, xả tánh nam giới và trụ ở Không, để Phật pháp hiện ra, thì bốn bậc là Phật, Bồ tát, Duyên giác và Thánh sẽ hiện hữu để tác động chúng ta. Vì vậy, các vị cao Tăng tu hành thường ngồi Thiền, sống một mình để dễ dàng an trụ pháp Không. Còn chúng ta chưa đắc đạo, nhưng muốn cứu đời, làm lợi ích cho chúng sinh, thì cái giá phải trả rất lớn; vì nghiệp ác của chúng ta còn nhiều, nên gặp việc không vừa lòng là nghiệp sinh khởi liền, lúc đó chẳng những không thể cứu ai được, mà chính mình còn bị đọa. Nhưng nếu chịu khổ cực công phu tu hành, từ tánh Không này, tâm chúng ta tương ưng với vị Bồ tát nào, ngài sẽ gia bị cho chúng ta. Vì vậy, khi xả định, việc chúng ta tương ưng với Bồ tát đó, chúng ta làm được dễ dàng.

Do đó, không kết nối được với Phật, với Bồ tát trong thế giới Không, mà chúng ta tự làm thì thường bị ma dẫn lối quỷ đưa đường, khiến cho nghiệp chúng ta dễ sinh ra. Ví dụ ma dẫn lối đến rủ chúng ta làm từ thiện và gặp nhiều chướng ngại làm chúng ta bực tức. Tôi thường nhận ra ý này trên bước đường hành đạo, khi tâm chúng ta thanh tịnh, nhận ra được ma thì nếu lỡ bước vào một chân còn rút ra được; nhưng nếu cả hai chân đi theo ma rồi, không thể nào thoát được, bị chúng kéo luôn vô con đường khổ đau.

Còn kết nối được với Bồ tát, điển hình như Ỷ Lan thứ phi, từ Niết bàn, hay từ trạng thái “Bất biến”, bà kết nối được với Bồ tát Quan Am, thì nhờ tâm Quan Âm, trí tuệ Quan Âm truyền vào, bà nhìn đời chính xác, thấy được việc nên làm, không phạm sai trái. Vua Lý Thánh Tông đánh thắng giặc, trở về, phải công nhận rằng bà nhiếp chánh còn giỏi hơn ông; vì bà đã giải quyết được nhiều việc lớn. Nói cách khác, đó là Bồ tát Quan Âm giải quyết qua con người Ỷ Lan, nên bà được dân chúng tôn danh là Quan Âm nữ, hay là Bồ tát Quan Âm thị hiện.

Khi nhận được Bồ tát lực gia bị, hoàn cảnh của hành giả tự động trở thành tốt đẹp. Vì vậy, có thể hiểu rằng trong Thiền định, hành giả có tâm từ bi tương ưng với Bồ tát Quan Âm, thì Bồ tát sẽ hợp tác với họ, nghĩa là gia bị cho họ. Chúng ta có thể nhận ra ý này qua sự hành đạo của Đức Phật Thích Ca. Ngài cho biết hằng ngày, sau 12g đêm, Ngài thuyết pháp cho chư Thiên, sau đó Đức Phật nhập định quán sát xem buổi sáng hôm sau, Ngài sẽ đến đâu để gặp ai và làm gì. Để làm việc này, Đức Phật Thích Ca phải nhờ lực của chư Phật mười phương gia bị thì Ngài có được trí tuệ tổng hợp của chư Phật, mới thấy được việc mà bình thường không thể thấy. Thực tập pháp này, tôi thấy có những việc thực tế tốt, nhưng vào Thiền định quán sát thì thấy không tốt; vì cái thấy do Phật, Bồ tát gia bị sẽ khác với cái thấy theo trí phàm phu của mình. Hòa thượng Trí Tịnh cũng nói ý này rằng những việc mà ngài trả lời theo suy nghĩ thì chỉ đúng được 50%, còn những việc tự động nói thường đúng đến 80% hay 90%. Hòa thượng đã 93 tuổi nhưng nhờ ngài sống trong Thiền định nhiều, nghĩa là sống với Phật, Bồ tát nhiều hơn là sống với thế gian, cho nên ngài nhìn sáng hơn mọi người. Chúng ta sống với vọng thức nhiều quá và luôn tiếp cận với thế gian, không tiếp cận với Phật, với Bồ tát; vì thế chúng ta đã bị thế gian đầu độc, tất nhiên phải gánh lấy toàn là phiền não.

Ý thức như vậy, việc quan trọng của chúng ta trên bước đường tu là làm sao tiếp cận với Phật, mới nhận được Phật lực gia bị; nhờ đó, chúng ta mới nhìn đời một cách sáng suốt và làm như Phật. Còn người tu hành bị tẩu hỏa nhập ma, họ nói những điều của ma và việc làm hoàn toàn sai lầm. Vì vậy khi thâm nhập vào bể Không, hay Niết bàn Không của Phật, tiếp cận được Phật và Bồ tát, các Ngài gia bị cho hành giả có những quyết định đúng đắn, dẫn đến việc làm hoàn toàn tốt đẹp, thì người này không nhứt thiết là nam hay nữ, nhưng làm được việc gì thành công là tùy vào sức gia bị của Phật, Bồ tát, hay tùy vào sự tương ưng với hạnh nguyện của các Ngài.

Giả sử lúc bình thường chúng ta khởi ý niệm nhớ đến Phật Thích Ca, hay Phật Di Đà, hay Quan Âm, và từ tánh Không nhớ đến những vị này mà niệm, gọi là từ chơn như duyên khởi thì chúng ta đã khởi lên được ý đạo, cho nên lúc xả định, chúng ta nhận thức theo các Ngài và làm như các Ngài.

Ngược lại, chúng ta sai lầm, rơi vô A lại da duyên khởi, nghĩa là từ trong tiềm thức mà chúng ta đã huân tập đủ các tánh ác và tánh thiện, cho nên khi chúng ta ngồi yên, tâm thù ghét dữ dội một người nào từ A lại da khởi lên thúc giục chúng ta tìm cách trả thù họ. Điều này được ngoại đạo chủ trương đó là sự mặc khải của Thượng đế, bảo họ phải đi giết người. Tin theo sự mặc khải một cách cuồng tín như vậy đã khiến cho nhiều người bị thảm sát, thậm chí dẫn đến những cuộc chiến tranh phi lý hằng ngày vẫn đang diễn ra trên thế giới.

Theo Phật, nếu khởi lên những ý ác như vậy, chúng ta phải biết đó là nghiệp ác phát xuất từ A lại da thức cần phải cắt bỏ; vì khi nhớ nghĩ đến điều gì khiến cho lòng bực tức, oán thù nổi lên thì liền có bạn ác tìm đến tác động chúng ta làm việc ác đó. Kinh Dược Sư gọi là “Làm bạn với ma”. Tu hành, không khéo sẽ dễ lầm A lại da duyên khởi và chơn như duyên khởi.

Trên bước đường tu, phải loại khỏi Thức tất cả những hạt giống xấu còn tồn đọng trong tâm, bằng cách đem pháp Phật vào lòng để rửa sạch trần tâm mới tiến tu và thâm nhập được pháp Không. Tôi xin nhắc lại rằng quý vị vào pháp Không thì không có sáu đường sinh tử, không có phân biệt nam nữ, nhưng tất cả chúng ta đều là pháp lữ đồng hành đáng tin cậy. Không vào bể Không thì còn có người chúng ta thương, có người chúng ta ghét, chắc chắn chúng ta sẽ rơi vào con đường sinh tử.

Không có sáu đường sinh tử thì thấy ai cũng dễ thương, vì không thấy nghiệp của họ, nhưng thấy tánh tốt của họ và cũng không phân biệt giới tính. Có Phật tử nói rằng họ tu Bát quan trai, tâm thanh tịnh nên quên mất người đối diện là “bà xã”, nên gọi vợ là đạo hữu, đến cha của họ cũng gọi là đạo hữu.

Quên cả giới tính, coi tất cả là bạn đồng tu và không khởi ý niệm giới tính thì dục tánh của chúng ta cũng tạm thời lắng yên. Dục tánh không khởi là A la hán, nhưng dục khởi thì thành chúng sinh. Một niệm trước của chúng ta thanh tịnh là Phật, niệm sau vọng động là rơi vô sáu đường sinh tử. Hành giả giữ niệm tâm nối kết liên tục và miên mật với Phật thì sẽ an trú được trong thế giới thánh thiện của Ngài. Cầu mong tất cả đệ tử Phật luôn sống với Phật tâm, thể hiện lời nói và việc làm giống Phật.

HT.Thích Trí Quảng

Duy Ma Cật & Lý tưởng người cư sĩ

Ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti)

Với sự khởi dậy của phong trào Ðại thừa vào khoảng năm trăm năm sau Phật nhập diệt, Phật giáo trải qua một tiến trình trẻ trung hóa. Những người giữ vai trò then chốt trong tiến trình này là những vị lãnh đạo trong cộng đồng cư sĩ. Ngài Duy Ma Cật là một hình ảnh đại diện cho lối sống và sự đóng góp của những cư sĩ này vào tiến trình đó, được diễn tả trong kinh Vimalakirti-nirdasha (Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh), thường được gọi là kinh Duy Ma Cật.

Duy Ma Cật (Vimalakirti), một thương gia giàu có ở thành Vaisali (Tỳ Xá Ly), có biện tài, giỏi tranh luận và trí nhớ phi thường. Ông là một người đầy quyến rũ và bí ẩn. Không giống như những đại đệ tử của Ðức Thích Ca Mâu Ni, hầu như tách rời hẳn với đời sống thế tục, Duy Ma Cật sống đời sống của một cư sĩ trọn vẹn và không ràng buộc. Đời sống đó là một hiện thân của tinh thần Ðại thừa, khước từ tinh thần tu viện hạn hẹp và nhấn mạnh vào việc đi vào xã hội của Phật giáo.

Ngài Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật

Ðối với giới Phật tử ở Ấn Ðộ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, đặc biệt là những cư sĩ tại gia, Duy Ma Cật đã trở thành một nhân vật được quảng đại quần chúng biết đến. Ðiều này được minh chứng khi chúng ta thấy rằng kinh Duy Ma Cật càng ngày càng được đọc tụng rộng rãi hơn trong giới Phật tử Ðại thừa bên cạnh kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Có sáu bản dịch kinh Duy Ma Cật tiếng Trung Hoa, trong đó có ba bản hiện còn. Trong những bản này, bản do Ngài Vimalakirti (Cưu Ma La Thập, 344-413) dịch được coi là có bút pháp tinh tế và được đọc nhiều nhất. Bồ tát triết gia Long Thọ (Nagarjuna) trong Ðại Trí Ðộ Luận (Mahaprajna-paramitopadesha) đã trích dẫn từ kinh Duy Ma Cật nhiều hơn những kinh điển khác ngoài kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Phái Thiên Thai cũng đặt kinh này vào một vị trí quan trọng, có bản sớ giải về kinh này. Ở Nhật Bản, đó là một trong ba bản kinh mà thái tử Shotòku (Thánh Ðức) viết sớ giải, hai bản kinh kia là kinh Pháp Hoa và kinh Thắng Man (Shrimala).

Kinh Duy Ma Cật chia sẻ với kinh Pháp Hoa nét độc đáo trong những kinh điển Ðại thừa gây ấn tượng và tác động mạnh nhất, và đã tạo ảnh hưởng lớn lên các thi sĩ và văn sĩ Trung Hoa và Nhật Bản. Thi sĩ lừng danh Trung Hoa thời Ðường là Vương Duy chẳng hạn bày tỏ sự kính ngưỡng của ông đối với kinh này với việc lấy tên là Duy Ma. Tác phẩm Hòjòki (Phương Trượng Ký) của Kamo no Chòmei (Áp Trường Minh, 1153 hoặc 1155-1216) trong văn học cổ đại Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng sâu xa tư tưởng kinh Duy Ma Cật, và “túp lều mười bộ” trong đó được diễn tả phỏng theo căn phòng mười bộ của ngài Duy Ma Cật.

Mặc dù sự đẹp đẽ trong văn chương, cũng như việc không thuộc vào một trường phái riêng biệt nào có thể là một phần nguyên do làm cho kinh này phổ biến rộng rãi và lâu dài, nhưng theo tôi, có lẽ nguyên do quan trọng nhất là ấn tượng mà Duy Ma Cật đã tạo ra nơi người đọc như là một con người, và đưa ra một cách thích đáng việc áp dụng thực tiễn tinh thần Ðại thừa.

Tư tưởng Phật giáo trong giai đoạn trước khi có phong trào Ðại thừa tập trung vào hình ảnh của tu sĩ, những vị sống nghiêm nhặt trong giới luật, và thực hành giáo pháp của Ðức Thích Ca Mâu Ni để chứng Thánh quả. Duy Ma Cật trái ngược hoàn toàn với những vị đó; ông là một thương gia giàu có, một công dân nổi bậc của thành Vaisali (Tỳ Xá Ly), được đồng bào thương mến và ông cũng rất gần gũi với họ. Ông có vợ và gia đình, dấn thân trong những hoạt động thương mãi, và thỉnh thoảng ông cũng có mặt trong các khu vui chơi và cờ bạc trong thành phố, để truyền bá giáo pháp Ðại thừa. Ông là một người thực hành loại giáo pháp mà Giáo đoàn trước kia, với sự nhấn mạnh vào tinh thần tu viện, không thể chấp nhận.

Chúng ta không có gì rõ ràng ngoài bản kinh để có thể xác định sự hiện hữu của Duy Ma Cật. Ngài Huyền Tráng có ghi lại rằng khi viếng thành phố Tỳ Xá Ly trong cuộc du hành sang Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ bảy, ngài được chỉ cho ngôi nhà xưa của Duy Ma Cật, cũng như nhiều nơi được nói là Duy Ma Cật đã từng giảng dạy tại đó. Tuy nhiên, điều này cũng không đủ để chứng minh, bởi vì rất nhiều nhân vật chỉ có trong văn chương hay huyền thoại cũng được gán cho nơi sinh, chỗ ở, y phục… Với tất cả những gì chúng ta biết, theo một vài nhà Phật học, Duy Ma Cật có thể không khác hơn là một hiện thân tưởng tượng của lý tưởng cư sĩ do tín đồ Ðại thừa tạo ra về sau.

Tuy nhiên, cũng không có lý do vững vàng để có thể bác bỏ sự hiện hữu thật sự của ngài Duy Ma Cật. Như chúng ta biết, trước kia, các học giả Tây phương cũng đã từng bác bỏ sự hiện hữu trong lịch sử của Đức Thích Ca Mâu Ni và vua Ashoka (A Dục), người được coi như một lãnh tụ huyền thoại, cho đến khi các nhà khảo cổ khai quật được những chỉ dụ của ông.

Và dù nếu Duy Ma Cật chỉ là một nhân vật thuần túy tưởng tượng, cũng không ai có thể chối bỏ giá trị của bộ kinh Ðại thừa vĩ đại mà  những hành vi của ông được diễn tả trong đó. Không phải tính lịch sử của Duy Ma Cật là quan trọng, nhưng chính cách mà bản kinh dùng ông để làm sáng tỏ lý tưởng Bồ tát, đưa ra những biện pháp thực tiễn để truyền bá Phật giáo trong toàn bộ xã hội, và trình bày một cái thấy sâu xa và cao thượng của đời sống, siêu vượt tính chất nhị nguyên của có và không. Duy Ma Cật chỉ là một cổ xe cho việc truyền bá tinh thần Ðại thừa.

Dù Duy Ma Cật là một nhân vật có thật hay chỉ trong văn chương, thành phố Vaisali (Tỳ Xá Ly), hậu trường của những sinh hoạt của ông, không phải là một sản phẩm của tưởng tượng. Ðó là một trung tâm thương mãi ở miền Bắc Ấn Ðộ và là một nguồn lực quan trọng của phong trào Ðại thừa. Chính Đức Thích Ca Mâu Ni đã tỏ ra rất chú ý đến thành phố này và đã cùng đệ tử viếng nơi đây nhiều lần. Không lâu trước khi nhập diệt, trên đường về thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), Ngài đã dừng lại một thời gian tại đây, và khi rời thành phố, Ngài nói: “Thành Tỳ Xá Ly đẹp xiết bao!”. Do đó, chúng ta không quá ngạc nhiên nếu thật sự có những tín đồ tại gia quan trọng như Duy Ma Cật sống và sinh hoạt trong thành phố này.

Chúng ta không nên nghĩ rằng những đệ tử nổi bật của Đức Phật chỉ là những vị Thanh văn, mặc dầu những câu chuyện về các vị này được ghi lại đầy đủ trong kinh điển tiền kỳ. Trong những năm đầu, chắc chắn Đức Thích Ca Mâu Ni đã để một thời gian dài giảng dạy cho những người trẻ gia nhập đời sống tu viện và quy tụ quanh ngài. Nhưng khi tiếng tăm Ngài được truyền rộng, càng ngày càng có nhiều người tìm đến nghe giáo pháp, và số nam nữ trở thành tín đồ tại gia của Ngài ngày càng gia tăng là điều tự nhiên. Kinh điển có ghi lại vua Bimbisara (Tần Bà Sa La), cai trị nước Magadha (Ma Kiệt Ðà), cũng như vua Pasenadi (Ba Tư Nặc), cai trị nước Koshala (Kiều Tát La), cả hai đều tín ngưỡng Phật pháp, và chúng ta cũng được nghe nói đến những sự quy ngưỡng trong giới thương gia giàu có như Sudatta (Tu Ðạt), người đã cúng tịnh xá Kỳ Viên cho Tăng đoàn.

Khi Đức Thích Ca Mâu Ni hướng đến những tín đồ tại gia, chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài đã hướng dẫn họ theo những phương pháp tu tập khác hơn những gì Ngài dạy cho giới tu sĩ, và vì vậy có thể giả thiết rằng nội dung những giáo lý đó ở mức độ nào đó khác hơn những gì Ngài đã dạy cho giới tu sĩ. Nếu những giáo lý này thật sự về sau kết tinh lại dưới hình thức những kinh điển Ðại thừa, chúng ta có thể ước đoán rằng những giáo lý đó nhấn mạnh lên bổn phận của người tín đồ tại gia trong việc lợi ích cho người khác cũng như trong việc phát triển giáo pháp trong toàn bộ xã hội.

Tôi có cảm nghĩ rằng Đức Thích Ca trông cậy vào giáo đoàn Tăng lữ trong việc bảo đảm phần giáo lý triết học và tôn giáo mà Ngài đã truyền dạy trong năm mươi năm sau khi giác ngộ, được lưu truyền một cách chính xác cho thế hệ sau, và đối với cư sĩ, Ngài quan tâm vào tinh thần tích cực và kiến thức về thế gian của họ, rằng họ có thể truyền bá giáo pháp vào trong lòng xã hội. Nếu giả thiết của tôi là đúng, chúng ta có thể nói rằng Đức Thích Ca Mâu Ni nhận thấy cả hai giới tu sĩ và cư sĩ đều quan trọng như nhau trong giáo pháp và rằng mỗi giới có phận sự riêng và không thể thiếu giới nào.

Xây dựng Phật Quốc độ

Sau đây, chúng ta xét qua bản dịch kinh Duy Ma Cật của ngài Cưu Ma La Thập, và nhân vật Duy Ma Cật.

Phần thứ nhất của kinh gồm có bốn phẩm, nói về những sự việc xảy ra ở vườn Ambapàli (Yêm La) ở ngoại ô thành Vaisali (Tỳ Xá Ly). Ambapàli là một kỹ nữ ở thành Vaisali (Tỳ Xá Ly) và là một Phật tử sùng tín. Ở Ấn Ðộ thời bấy giờ, kỹ nữ và gái mãi dâm được chính phủ giám sát và bảo vệ. Ambapàli được coi như một trong những tài sản của Tỳ Xá Ly, không những có sắc đẹp, lại rất thông minh và có học. Cô ta rất giàu có và làm chủ những khu vườn đẹp ở vùng ngoại ô mà cô đã dâng cúng cho Đức Phật. Trong thời gian được diễn tả trong kinh Duy Ma Cật, Đức Thích Ca Mâu Ni đã cùng với tám ngàn Tỳ kheo và ba ngàn hai trăm vị Bồ tát nghỉ dưới bóng những cây xoài trong khu vườn này.

Vào lúc đó, một người thanh niên tên là Bảo Tích cùng đi với năm trăm thanh niên quý tộc của thành Tỳ Xá Ly, mỗi người cầm một cây lọng bảy báu, đến viếng Phật. Đức Phật làm cho năm trăm cây lọng báu hiệp thành một cây lọng. Với cây lọng lớn này, Ngài che mát các cõi trong ba ngàn đại thiên thế giới. Ðoạn này có thể hiểu là từ bỏ bản ngã riêng của năm trăm người để sống trong đại ngã duy nhất của Phật. Ý nghĩa tiềm ẩn của đoạn kinh là khái niệm “nhứt niệm tam thiên”, tức ba ngàn đại thiên thế giới bao hàm trong một niệm, được trình bày ở những kinh điển khác.

Bảo Tích, đầy lòng kính mộ, tụng một bài kệ tán thán Ðức Thế Tôn. Trong đó có đoạn rất nổi danh:

Phật dạy giáo pháp chỉ một âm,

Mà mỗi chúng sanh tùy bậc hiểu“.

Có nghĩa là mỗi người nghe giáo pháp của Phật sẽ hiểu khác nhau tùy theo căn tánh và khả năng. Dù giáo pháp có được trình bày hùng hồn thế nào, nếu người nghe chỉ mang quan điểm hẹp hòi của Thanh văn hay Bích chi thì cũng không thể hiểu giáo pháp Ðại thừa của Đức Phật. Mặt khác, nếu người này có tâm hồn rộng rãi có thể phóng tầm nhìn ra ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, người ấy sẽ chứng nghiệm được ý nghĩa chân thật của Phật không gì khó khăn. Ðoạn kinh này là đoạn nhắc nhở cho chúng ta, những người tầm cầu giáo pháp, rằng một thái độ rộng rãi và cởi mở quan trọng như thế nào.

Sau đó, Bảo Tích hỏi Đức Thích Ca Mâu Ni những việc Bồ tát cần làm để chứng được cõi Phật thanh tịnh. Ðức Phật trả lời: “Này Bảo Tích! Quốc độ của tất cả chúng sanh là Phật quốc độ của các Bồ tát. Vì sao? Bởi vì các quốc độ của Phật được giữ gìn do những chúng sanh được các vị Bồ tát chuyển hóa, và được giữ gìn do những chúng sanh được các Bồ tát giáo hóa. Quốc độ Phật được mở rộng do nhiều chúng sanh chứng ngộ trí huệ Phật, được mở rộng do những người giác ngộ tánh Bồ tát nơi chính mình. Như vậy, quốc độ Phật của Bồ tát là để làm lợi ích chúng sanh“.

Bồ tát tu tập để thành tựu pháp giới hay Phật quốc, Phật quốc này hoàn toàn thanh tịnh, nhưng như đoạn kinh nói rõ, “những quốc độ Phật” này không phải “Cõi Tịnh độ” ở phương Tây. Những cõi Phật này có sẵn trong tâm của vị Bồ tát khi vị Bồ tát phát nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh và tinh tấn tu tập để chứng ngộ Phật quốc độ đó. Nói cách khác, quốc độ Phật được quan niệm không phải như là kết quả để đạt đến mà là động lực, hay tiến trình, để đạt đến nó. Ðó là một điển hình về tính chất năng động tiêu biểu của toàn kinh Duy Ma Cật. Ðoạn kinh trên cũng có thể được coi như là một công thức đo lường phạm vi truyền bá giáo pháp mà một người đạt tới. Khi một hành giả giảng dạy, mức độ mà người này hiểu về sứ mệnh của mình trong tư cách một Bồ tát chuyển hóa người khác vào giáo lý Ðại thừa, đưa họ vào cảnh giới trí tuệ của Phật, và giải thoát cho tất cả chúng sanh sẽ quyết định mức độ thanh tịnh và sự đạt đến bao xa trong quốc độ Phật mà người này xây dựng.

Tất cả những đoạn được trình bày ở trên đều thuộc về phẩm thứ nhứt của kinh, phẩm “Phật Quốc”. Trong phẩm thứ hai, phẩm “Phương Tiện”, chúng ta sẽ khảo sát đến nhân vật đáng lưu ý là ngài Duy Ma Cật. Vimala trong tiếng Sanskrit (Phạn ngữ) có nghĩa là “không ô nhiễm”, và kirti có nghĩa là “danh tiếng” hay “thanh danh”. Ngài Huyền Tráng dịch là “Tịnh Danh”. Ngài Cưu Ma La Thập thì dùng chữ Trung Hoa để diễn âm Phạn ngữ. Vì bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập rất nổi tiếng và phổ biến, ở Trung Hoa tên Duy Ma Cật hay Duy Ma thường được dùng để gọi ngài Vimalakirti (Tịnh Danh).

Kinh cho chúng ta biết rằng ở Tỳ Xá Ly có một người giàu có tên là Duy Ma Cật hay “Tịnh Danh”, một Phật tử tại gia có nhiều phương tiện thiện xảo để chuyển hóa quần chúng theo về với giáo pháp.

Theo kinh, ông là một người năng động. Công việc làm ăn buôn bán của ông phát đạt, và ông cũng đã phân phát của cải của ông cho đông đảo quần chúng. Ông đi mọi nơi trong thành để hướng dẫn mọi người, viếng các trường học và dạy dô các trẻ em bằng phương pháp khéo léo, và có rất nhiều bạn bè cả già lẫn trẻ. Ông thông hiểu những tác phẩm phổ biến đương thời, và được nhiều người trong giới Bà la môn mến mộ.

Kinh nói: “Khi ở với các đại thần, ông dạy giáo pháp chân thật làm lợi ích cho những đại thần tôn quý nhất“. Có thể trong thực tế ông đã có thời gian làm đại thần. Ở Tỳ Xá Ly lúc đó đã có một hình thức chính phủ cộng hòa, và có thể ông đã được bầu giữ một chức vụ quan trọng. Dù thế nào, ông cũng là một công dân xuất sắc của quốc gia.

Ðịa vị của Duy Ma Cật ở Tỳ Xá Ly gợi cho chúng ta nhớ đến Socrates ở Athens. Nhưng Socrates thì không giàu có. Và nếu Duy Ma Cật có ảnh hưởng lớn lao hơn Socrates, ông cũng có diễm phúc hơn Socrates về sự tín nhiệm của quần chúng. Ðiều này được chứng minh hùng hồn trong dịp ông bị bịnh, khi đó các vua, đại thần, người già cả, cư sĩ, Bà la môn, vương tử, và các quan lại, tính tổng cộng có đến nhiều ngàn người, đến để hỏi thăm sức khỏe. Ông được sự mến mộ và cảm tình của tuyệt đại đa số quần chúng.

Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni đang ở tại vườn Yêm La (Ambapali). Ngài quyết định phái người đến thăm hỏi Duy Ma Cật. Phẩm thứ ba và thứ bốn, “Thanh văn” và “Bồ tát”, diễn tả việc Đức Phật chỉ định từng vị một trong mười Ðại đệ tử của Ngài, đến Đức Di Lặc và những vị Bồ tát khác, nhận lãnh trách nhiệm. Nhưng mỗi vị, nhớ lại việc trước kia bị Duy Ma Cật phản bác, đều nói rằng mình không thích hợp với công việc được giao phó.

Như ngài Xá Lợi Phất (Shariputra), được coi như một vị “trí huệ đệ nhứt”, kể lại lúc xưa có một lần khi ngài ngồi kiết già thiền định dưới một gốc cây, Duy Ma Cật xuất hiện và giảng cho ngài phương pháp đúng đắn về tọa thiền. Duy Ma Cật nói: “Này ngài Xá Lợi Phất, không phải ngồi là ngồi thiền. Ngồi thiền có nghĩa là không hiện ra trong ba cõi. Cũng có nghĩa là hiển bày chính mình trong tánh tự nhiên trong đó thân và tâm đều không còn. Có nghĩa là tu hành Phật đạo trong lúc làm những công việc hàng ngày trong thế gian. Ðó gọi là ngồi thiền“.

Ngài Xá Lợi Phất không có câu trả lời. Vì lý do đó, ngài giải thích với Phật rằng ngài không thể nhận lãnh trách nhiệm thăm hỏi sức khỏe Duy Ma Cật.

Những đoạn kinh đó nhắm đến tấn công quan điểm Tiểu thừa, và nêu lên sự tu tập theo quan điểm Ðại thừa. Trong những thí dụ vừa được trích dẫn, sự tu tập của Tiểu thừa bị phê phán về chủ nghĩa hình thức mà họ rơi vào, và việc không lưu ý đến nội dung và tác dụng thực tiễn của sự tu tập. Tinh thần tiêu biểu của Ðại thừa được thấy rất rõ ràng ở đây.

Tuy nhiên, với nhiệt tâm tấn công lý tưởng Thanh văn hay Bích chi của Tiểu thừa, đôi khi kinh đã đi ra ngoài những giới hạn của lý lẽ. Một ví dụ trong kinh là ngài Xá Lợi Phất từ đầu đến cuối luôn luôn bị coi như một người làm trò. Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta biết ngài đã đóng một vai trò quan trọng trong giáo đoàn, là một trong những người lãnh đạo Giáo đoàn.

Một số học giả coi kinh Duy Ma Cật và kinh Pháp Hoa là cùng một “gia đình” trong kinh điển Ðại thừa. Tuy nhiên kinh Duy Ma Cật dường như vẫn còn bị dính mắc trong sự phân biệt giữa lý tưởng Thanh văn/ Bích chi của Tiểu thừa và lý tưởng Bồ tát của Ðại thừa. Sự không thể vượt qua sự phân biệt đó tạo ra một vết rạn trong kinh.

Bồ tát làm lợi chúng sanh như thế nào?

Phần thứ hai trong bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, từ phẩm thứ năm đến phẩm thứ chín, đưa chúng ta vào căn phòng mười bộ của ngài Duy Ma Cật. Bồ tát Văn Thù (Manjushri) thay mặt Phật đến thăm bịnh ngài Duy Ma Cật. Có tám ngàn vị Bồ tát, năm trăm vị Thanh văn, và một trăm ngàn chúng trời cùng đi với ngài. Mọi người đều nghĩ rằng những lời đối đáp giữa Đức Văn Thù và ngài Duy Ma Cật sẽ rất lợi lạc, và họ vây quanh chờ đợi.

Căn phòng mà ngài Duy Ma Cật đang nằm không có một thứ gì ngoài chiếc giường và chỉ rộng một trượng tức khoảng mười bộ, nhưng đủ chỗ cho mọi người đến thăm. Ðiều này thật khó cho người duy lý bình thường có thể hiểu và chấp nhận.

Ngay cả ngài Xá Lợi Phất cũng vậy. Ở phẩm thứ sáu, ngài đã bối rối trước sự việc mà Duy Ma Cật nói với ngài: “Thưa ngài Xá Lợi Phất! Chư Phật và Bồ tát có pháp giải thoát tên là Bất tư nghì. Khi Bồ tát trụ nơi pháp giải thoát đó, đem núi Tu Di (Sumeru) để vào trong một hột cải vẫn không dư không thiếu. Lại nữa, hình dạng núi Tu Di cũng không biến đổi, trời Tứ thiên vương và chư thiên cõi trời Ba mươi ba (Ðao Lợi) cũng không biết là mình vào trong đó. Chỉ những bậc Ứng hợp độ thế mới có thể biết rằng núi Tu Di đã được đem vào trong hạt cải. Ðó gọi là pháp môn Bất tư nghì giải thoát“.

Ðoạn kinh trên là một sự trình bày về giáo lý tánh Không (Sunyata) của Ðại thừa. Những lời đối đáp giữa hai ngài Văn Thù và Duy Ma Cật cũng đặt nền tảng trên khái niệm tánh Không này, tính chất rỗng không hay vượt ngoài mọi khả năng diễn tả của thực tại. Trong phẩm thứ chín, “Nhập Bất Nhị Pháp Môn”, khái niệm này được trình bày dưới nhiều góc cạnh, và được diễn tả là “không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, không hữu vi cũng không vô vi“. Ðó là tính Bất nhị không thể hiểu được bằng ngôn ngữ thông thường, cảnh giới nhất nguyên tuyệt đối.

Đó là cảnh giới mà Bồ tát dùng nhiều cách tu tập để đạt tới. Ở đây chúng ta tìm xem những sự tu tập này gồm những gì.

Trở lại với ngài Duy Ma Cật như được diễn tả trong phẩm thứ năm, “Thăm bệnh”. Khi ngài Văn Thù đến bên để hỏi thăm bệnh, ngài Duy Ma Cật đã trả lời với những lời lẽ tuyệt vời như sau:

Do từ si mê sinh ra ái, từ đó mà bịnh tôi phát sinh. Vì tất cả chúng sanh bệnh, nên tôi bệnh. Nếu bệnh của chúng sanh không còn, thì bệnh tôi không còn. Vì sao? Vì Bồ tát đi vào trong sanh tử vì lợi ích chúng sanh. Vì có sanh tử nên có bệnh. Nếu chúng sanh không còn bệnh thì Bồ tát không còn bệnh. Ví như ông trưởng giả chỉ có một người con. Nếu người con bệnh thì cha mẹ bịnh theo, nếu con lành bệnh thì cha mẹ lành bệnh. Bồ tát cũng như thế, thương tất cả chúng sanh như con. Nếu chúng sanh bệnh thì Bồ tát bệnh, nếu chúng sanh lành thì Bồ tát lành. Ngài hỏi tôi: ‘Nguyên do từ đâu mà tôi bị bệnh?’ Bệnh của Bồ tát là do tâm đại bi“.

Ở đây, chúng ta thấy rõ rằng bệnh của ngài Duy Ma Cật không phải do sự mất điều hòa của năm ấm gây ra. Nguyên do của bệnh thuộc phạm vi tinh thần. Thông thường một người khỏe mạnh ít khi nào hiểu được những nỗi khổ của người bệnh. Nhưng ở đây, chúng ta được chứng kiến hạnh nguyện của vị Bồ tát: Không chỉ hiểu mà còn san sẻ những nỗi khổ của người khác, lấy nỗi khổ của người khác làm nỗi khổ của mình.

Ngài Duy Ma Cật tiếp tục giải thích những hạnh của Bồ tát như sau: “Mặc dù Bồ tát quán sát các quốc độ của chư Phật là hằng cữu và ở ngoài sinh tử, ngài vẫn làm cho những quốc độ này phô bày mọi vẻ thanh tịnh cho chúng sanh được thấy – đó là hạnh của Bồ tát. Bồ tát cầu Phật quả, thuyết pháp, nhập Niết bàn, ngài vẫn không bỏ đạo Bồ tát – đó là hạnh của Bồ tát“.

Nghe những lời này của Duy Ma Cật, tám ngàn thiên tử đi theo ngài Văn Thù chứng Vô thượng Chánh giác.

Mục đích của đoạn kinh này là muốn làm sáng tỏ rằng vị Bồ tát khi thực hành những pháp môn tu tập cho bản thân cũng nỗ lực tạo “quốc độ Phật” hay thế giới lý tưởng trong xã hội thực tiễn mình đang sống. Không giống với người tín đồ Tiểu thừa theo đuổi lý tưởng A la hán, chỉ cố gắng để giải thoát bản thân khỏi khổ đau và vô minh, vị Bồ tát hiểu biết sâu xa về pháp, và từ chỗ này, cố gắng không ngừng trong việc tạo quốc độ Phật để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ðó là trách nhiệm cao cả của giáo lý Ðại thừa phó thác cho Bồ tát.

Ðể kết luận cuộc đàm thoại hùng hồn và thâm sâu giữa ngài Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù về bản chất của Bồ tát, một thiên nữ trong gia đình ngài Duy Ma Cật đột nhiên xuất hiện rải hoa trời lên đại chúng. Những hoa này rơi xuống chạm vào các vị Bồ tát thì rớt xuống đất, còn những hoa rơi chạm các vị Thanh văn thì bám dính vào họ. Ngài Xá Lợi Phất và các vị đệ tử Thanh văn của Đức Phật cố gỡ những hoa này nhưng không gỡ ra được.

Thiên nữ cười, hỏi ngài Xá Lợi Phất: “Vì sao ngài lại gắng sức gỡ bỏ những hoa đó?”.

Ngài Xá Lợi Phất trả lời: “Thiên nữ, tôi gỡ bỏ những hoa này vì chúng không thích hợp cho người tu sĩ!”.

Thiên nữ nói rằng những hoa này tự chúng không bận tâm về việc thích hợp hay không thích hợp. Chỉ vì ngài Xá Lợi Phất và những vị Thanh văn vẫn còn nuôi dưỡng tâm phân biệt rằng có những hoa bám vào các ngài. Ðối với người tu còn sợ hãi luân hồi, các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều trở thành nguồn cội của vô minh.

Tuy nhiên, ngài Xá Lợi Phất lại chế nhạo vị thiên nữ. Ngài hỏi: “Thiên nữ, vì sao cô không chuyển đổi tướng nữ nhân?”.

Thiên nữ trả lời bằng cách hiển lộ thần thông chuyển ngài Xá Lợi Phất thành tướng nữ, và chuyển thân tướng mình thành thân tướng ngài Xá Lợi Phất.

Một lần nữa, cùng một vấn đề được nêu ra: Ngài Xá Lợi Phất, đại biểu cho quan điểm Tiểu thừa, không thể thoát khỏi lối suy nghĩ theo những phạm trù cứng nhắc. Dưới cái nhìn của Phật pháp, tất cả chúng sanh đều bình đẳng, nam hay nữ đều như nhau. Như lời thiên nữ nói theo lời dạy của Đức Thích Ca Mâu Ni: “Trong tính bình đẳng của tất cả chúng sanh, không có tướng nam hay tướng nữ“. Đoạn kinh này rất gần với tư tưởng của phẩm mười hai trong kinh Pháp Hoa, trong đó, long nữ chuyển thành tướng nam và chứng quả Phật.

Một điểm cuối cùng cần ghi nhận trong những đoạn kinh này là sự nhiệt thành cầu giác ngộ của những người đến gặp ngài Duy Ma Cật. Nơi nào có những cư sĩ với lòng tin và sự hiểu biết sâu xa như ngài Duy Ma Cật, những vị đó sẽ tạo nguồn cảm hứng cho tất cả những người gần gũi với họ.

Giáo lý bất tư nghì

Trong phẩm thứ tám, “Phật đạo”, ngài Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù tranh luận về bản chất sự giác ngộ của Phật. Trong phẩm thứ chín, “Nhập Bất Nhị Pháp Môn”, ba mươi hai vị Bồ tát chứng được nhiều cảnh giới trong Bất nhị pháp môn.

Đây được coi như điểm cao tột của kinh, chứa một câu bất hủ “Sự im lặng của Duy Ma Cật, giống như tiếng nổ của sấm sét“. Từng vị một, các Bồ tát trình bày quan điểm của mình về tánh chất của pháp môn Bất-nhị. Nhưng đến lượt Duy Ma Cật, ngài chỉ ngồi yên lặng. Ở đây ngài tỏ bày cảnh giới Bất-nhị bằng sự im lặng, rằng cảnh giới đó luôn luôn ở trên và ở ngoài mọi ngôn ngữ, một nơi mà mọi tác động của tâm đều chấm dứt.

Bồ tát Văn Thù, đầy ngưỡng mộ với cách tỏ bày của ngài Duy Ma Cật, tán thán: “Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là nhập Bất nhị pháp môn“. Và lúc đó năm ngàn vị Bồ tát liền chứng Vô sanh pháp nhẫn.

Phần cuối của kinh, từ phẩm thứ mười đến phẩm thứ mười bốn, đề cập đến Đức Phật tên Hương Tích ở cõi Chúng Hương. Đức Phật đó thuyết pháp bằng cách dùng những mùi hương vi diệu.

Những tranh luận giữa ngài Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù tiếp tục cho đến gần giờ trưa. Ngài Xá Lợi Phất bâng khuâng về việc ngọ trai vì theo giới luật của các Tăng sĩ thời bấy giờ, tu sĩ không được ăn sau giờ ngọ. Ngài Duy Ma Cật nhận thấy điều đó, hỏi: “Ngài có nghĩ rằng ngài có thể nghe pháp trong khi bận tâm về thực phẩm?”. Rồi ngài nói tiếp “Nếu ngài cần một thứ gì để ăn, xin hãy chờ một lát. Tôi sẽ dâng cho ngài thứ thực phẩm mà ngài chưa từng bao giờ nếm đến“. Ngài Duy Ma Cật gởi một sứ giả đến cõi Chúng Hương để thỉnh một bữa ăn. Người sứ giả được gởi đến thấy mình ở trong một thế giới không sử dụng ngôn ngữ và văn tự. Phật pháp ở đó hoàn toàn được dạy bằng các loại mùi hương. Trong cõi đó không có Thanh văn hay Bích Chi, chỉ có toàn Bồ tát đã đạt đến sự thanh tịnh cao tột, và các ngài chỉ sống bằng mùi hương.

Cõi Chúng Hương, mặc dù với những tính chất thần thoại của nó, được diễn tả một cách vô cùng sống động, và chúng ta thấy những năng lực tưởng tượng lớn lao của các tác giả Ðại thừa. Các vị đó thấy rằng Chánh pháp là một thứ có thể khai mở và giải thích những bí ẩn của nguồn sống, nó nên được trình bày bằng những cảnh giới hay cái thấy vượt ngoài sự tưởng tượng thông thường của con người. Như vậy, diễn tả giáo pháp không qua ngôn ngữ mà bằng các loại hương là một cách làm khuấy động tâm thức để đưa vào một thức giác siêu việt.

Kinh tiếp tục nói rõ rằng, nhìn từ cõi Chúng Hương, thế giới của chúng ta là một nơi đầy tội lỗi và đồi trụy, đầy dẫy những chúng sanh với tâm linh nhì nhằng và có khuynh hướng về những mục tiêu thấp kém, làm cho chư Phật và Bồ tát khó khăn trong việc hóa độ. Ở đây, chư Phật phải dùng ngôn ngữ để dạy dỗ thay vì dùng các mùi hương, và chư Bồ tát phải đi vào những cảnh giới thấp kém để chiến đấu một cách mãnh liệt và không ngừng trong việc khắc phục sự xấu ác.

Ngài Duy Ma Cật, khi nghe các vị Bồ tát ở cõi Chúng Hương nói, trả lời rằng các vị Bồ tát ở thế giới chúng ta có “mười thiện pháp”. Mười thiện pháp này bao gồm những hạnh mà các ngài tu tập. Những hạnh chính là sáu Ba la mật, gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí huệ.

Tám pháp mà vị Bồ tát tuân giữ trong đời sống tu tập ngày nay cũng bắt nguồn từ khuôn mẫu của ngài. Tám pháp này rất thiết thực về mặt đạo đức cho con người ngày nay, cả nam cũng như nữ, tôi xin trích ra đầy đủ:

1- Lợi ích chúng sanh mà không mong đền đáp.

2- Chịu mọi điều khổ thế cho chúng sanh.

3- Bao nhiêu công đức thành tựu đều hồi hướng cho chúng sanh.

4- Có lòng bình đẳng đối với chúng sanh, khiêm nhường đối với chúng sanh, không khởi tâm chướng ngại đối với chúng sanh. Ðối với Bồ tát, xem như Phật.

5- Những kinh chưa nghe, nghe không nghi; không tranh luận với các vị Thanh văn.

6- Không ganh tỵ khi người khác được cúng dường, không kiêu căng với thu hoạch của mình, luôn kiểm soát tự tâm.

7- Thường xét lỗi mình, không nói điều xấu của kẻ khác.

8- Luôn giữ tâm không lay chuyển và tinh tấn trong mọi hạnh lành.

Nếu có người hết lòng trong việc làm lợi ích và cứu giúp người khác, người đó thực hành tám pháp này. Người ta có thể thấy ngay rằng, ngược lại với những giới luật tiểu tiết và khắt khe của Tiểu thừa, những điều này từ bản chất là những mục đích đạo đức rộng lớn trong việc hướng dẫn tư cách và hành động của một người.

Sau đó, kinh một lần nữa trở lại với khu vườn Âm La (Pabapàli), nơi đây lý lịch thật của Duy Ma Cật được cho biết thêm, và chấm dứt với sự phó chúc bản kinh cho ngài Di Lặc (Maitreya) và A Nan (Ananda).

Tên khác của kinh Duy Ma Cật Bất Tư Nghì Giải Thoát, và chắc chắn nhân vật Duy Ma Cật, như được diễn tả trong kinh, vẫn mang đầy sự bí ẩn và kỳ diệu. Ông đại biểu cho lý tưởng cư sĩ tại gia như được định hình từ hai ngàn năm trước

Daisaku Ikeda – Nguyên Hảo dịch

Nguồn: Giác Ngộ Online

  • ĐỌC KINH DUY MA CẬT SỞ THUYẾT TẠI ĐÂY:

http://www.wattpad.com/3168410-c%C3%A1c-b%E1%BA%A3n-kinh-v%C3%A0-lu%E1%BA%ADn-kinh-duy-ma-c%E1%BA%ADt

Làm mới cuộc sống

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 52 tại chùa Phổ Quang ngày 28-12-2008)

Tác giả: HT.THÍCH TRÍ QUẢNG

 

Chủ đề “Làm mới cuộc sống” gợi tôi nhớ đến  câu mà một vị Tổ đã  dạy rằng: Nam  nhi tự hữu sung thiên khí. Bất  hướng Như Lai hành xứ hành.(Thiền sư Quảng Nghiêm, thế kỷ XII)
Cuộc sống tu hành của chúng ta nếu không được làm mới, tức không có tiến bộ,  không thăng hoa, là giậm chân tại chỗ, chẳng những không đạt được kết quả tốt đẹp, mà còn bị tụt hậu.

Chúng ta nhận thấy trong sinh hoạt xã hội, người nào biết làm mới mình, thì dễ dàng thăng tiến. Nếu không thay đổi cuộc sống cho tốt hơn, chúng ta chẳng khác gì con ong, cái kiến, từ ngàn xưa, tổ tiên của chúng sống như thế, cho đến ngày nay, chúng vẫn sinh hoạt y như thế. Còn tổ tiên chúng ta có những bước thăng trầm trong cuộc sống và rõ ràng đã có sự tiến hóa trong mọi lãnh vực sinh hoạt, cho đến ngày nay, nhân loại đã đạt đến đỉnh văn minh cao nhất.
Thực tế cho thấy xã hội có tiến hóa, con người có tiến hóa, tất nhiên chúng ta tu hành cũng phải có sự tiến hóa, tức là làm mới cuộc sống. Thật vậy, Đức Phật dạy rằng nếu thể nghiệm pháp Phật trong nếp sống của chính mình, chúng ta sẽ từng bước thăng hoa tri thức và đức hạnh theo thứ bậc như sau, khởi đầu từ tư cách con người phàm phu tu hành, chúng ta tiến lên tư cách của chư Thiên, rồi lên Hiền vị  và đắc quả A la hán theo tinh thần Nguyên thủy. Kế tiếp, chúng ta sẽ phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo trải qua 52 chặng đường theo kinh Hoa Nghiêm để đạt đến đỉnh cao của tuệ giác là thành tựu quả vị Phật. Và thành Phật rồi, không phải không đổi mới cuộc sống, nhưng càng đổi mới nhiều hơn nữa, đó là chúng ta không chỉ hành đạo hạn hẹp với thân tứ đại ngũ uẩn ở Ta bà này, mà còn có khả năng cứu độ chúng sinh bằng thiên bá ức hóa thân trong khắp mười phương; nói cách khác, chúng ta luôn luôn có được những phương tiện thiện xảo làm lợi lạc cho xã hội chúng ta đang sống và mở rộng hơn nữa là hiện hữu trong khắp pháp giới tùy theo hạnh nguyện của mình để gieo trồng căn lành và cứu độ muôn loài mọi giới.

Chúng ta còn nhớ tổ tiên mình đã phát triển sự sống khởi nguồn từ thời đồ đá, tiến lên thời đồ đồng và phát triển cho đến ngày nay là thời khoa học hiện đại. Đó là cả một quá trình tiến hóa, luôn đổi mới của nhân loại. Nếu tính riêng thành phố Hồ Chí Minh, vào 300 năm trước, thầy Tổ của chúng ta chỉ có một vài vị đến thành phố này với đoàn di dân để khai đạo. Nhưng ngày nay, thành phố chúng ta đã có đến bảy triệu dân, hàng vạn Tăng Ni và hàng ngàn ngôi chùa. Và gần nhất, chúng ta có phong trào học Phật do cố Hòa thượng Thiện Hoa khởi xướng, lúc đó chỉ có khoảng 40, 50 đạo hữu theo học. Từ đó đến nay, mới trải qua vài chục năm, đã có sự thay đổi rất nhiều, trước nhất là chùa chiền đã phát triển ở nhiều nơi và rộng lớn hơn và các khóa tu học cũng được thay đổi, như khóa tu Một ngày an lạc của chúng ta có cả ngàn người thường xuyên tham dự. Tuy nhiên, không phải chúng ta bằng lòng với thành quả như vậy; nếu không, Phật giáo sẽ bị tụt hậu.

Phải có sự sáng tạo, đổi mới, nghĩa là từng bước đi tới, thì việc làm của chúng ta phải tốt đẹp hơn, cái nhìn phải sáng hơn. Khóa tu Một ngày an lạc đã trải qua 52 chặng đường phải giúp cho hành giả nhận thức đúng đắn hơn và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh mình, nhờ đó, mới có thể đóng góp thiết thực lợi lạc cho đạo pháp và cho xã hội.
Nương vào con đường luôn luôn sáng đẹp của Chánh pháp, nếu xã hội bất an, cuộc sống có nhiều bức ngặt, chúng ta có thể tìm sự an lạc ở chốn Thiền môn để thực tập lời Phật dạy, tiếp nhận được hướng đi lên trong sáng cho chính mình; đó là cách làm mới nếp sống tu hành. Trên thực tế, các khóa tu Một ngày an lạc của chúng ta đã thực hiện nhiều sự đổi mới so với cách tu Bát quan trai từ trước đến nay ở điểm chú trọng đến việc ứng dụng giáo lý Phật dạy vào cuộc sống của Phật tử cho thích hợp với thời đại khoa học tiến bộ.

Phải khẳng định rằng khóa tu của chúng ta đã duy trì được đến ngày hôm nay chính là nhờ vào sự thay đổi rất nhiều từ hình thức cho đến nội dung tu học. Và trải qua 52 chặng đường tu tập, chúng ta đạt đến đỉnh an lạc rồi, chẳng lẽ bước sang năm 2009, chúng ta cũng dừng lại ở sự an lạc này hay sao. Vì vậy, cần có sự nhận thức mới, có sự chuyển đổi, sự thăng hoa, nghĩa là không phải cuối tuần tu học, chỉ được một ngày an lạc, mà phải phát triển được tâm linh của hành giả đang bước theo dấu chân Phật, tức mở rộng được tầm nhìn về vật chất và tinh thần một cách chính xác. Tôi đề nghị quý thầy biên soạn tài liệu học tập nên bớt đi những nhận thức xã hội, mà phát huy đời sống tâm linh quan trọng hơn. Vì khi bất an, thì tìm cái an; nhưng tìm được sự an lạc rồi, phải bắt đầu đi vào hành trình của thế giới tâm linh.

Người bình thường thấy cuộc đời của Đức Phật không có gì thay đổi, nghĩa là từ khi Ngài xuất gia cho đến ngày Niết bàn, Đức Phật không làm gì khác hơn là đắp y, mang bình bát vào thành khất thực, rồi về thọ thực, kinh hành và thuyết pháp. Đó là cách nhìn theo mắt thường của thế gian thấy ngày nào Phật cũng làm như vậy thôi. Ý này trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật cũng đã nói rằng người thế gian nghĩ Ngài là con vua Tịnh Phạn, vừa bỏ ngôi vua để tu khổ hạnh, rồi thuyết pháp dạy đời. Nhưng Đức Phật xác định rằng đó là quan niệm của người đời, vì đời sống tâm linh của Ngài không phải chỉ tầm thường như thế. Ngài đã thành Phật từ vô lượng kiếp quá khứ xa xưa và đã giáo hóa độ sinh trong khắp mười phương, không phải chỉ mới tu hành và thành Phật ở Ta bà này.

Từ kinh Nguyên thủy chuyển sang kinh Đại thừa có thể nói là cách làm mới đạo Phật, làm mới sức sống của Phật giáo; nếu không, Phật giáo đã bị tiêu diệt, sức sống của đạo đã bị chấm dứt. Xã hội phải thay đổi để tồn tại; Phật giáo cũng phải thay đổi để thích nghi với đời sống của con người, mới tồn tại được. Vì như đã nói, con người không phải là con ong, cái kiến. Con người vượt trội hơn tất cả các loài khác, vì có đời sống tâm linh, có trí tuệ. Sự đổi mới của chúng ta là làm mới đời sống tâm linh, làm mới nhận thức của chúng ta; đó là sự thay đổi rất lớn lao và rất quan trọng.

Tất cả mọi người đều mang thân tứ đại ngũ uẩn, nhưng người biết làm mới tứ đại ngũ uẩn thì trên quá trình tu hành, tức quá trình sống, họ có sự chuyển đổi dần dần. Có người thay đổi sắc thân bên ngoài, nhưng có người thay đổi ngũ uẩn bên trong, thay đổi tâm thức. Tuy nhiên, dù là thay đổi cuộc sống bên ngoài hay thay đổi tâm thức, thì trong quá trình thay đổi đó, tất cả những gì của quá khứ và vị lai đều nằm trong hiện tại, tức hiện tại dung nhiếp cả ba đời nhờ sử dụng trí tuệ.
Đầu tiên, thay đổi vật chất là phải chuyển hóa thân tứ đại trước. Còn thay đổi đời sống tâm linh thì phải chuyển hóa Thức trước. Thay đổi vật chất trước là tiệm tu. Đốn tu là sự bứt phá, thay đổi từ gốc, hay từ tâm thức, thì đạt kết quả nhanh hơn, nhưng không đơn giản và thường chỉ có hàng thượng căn thượng trí mới tu tập được.
Để thay đổi vật chất, người tu làm mới cách nào? Chúng ta loại bỏ những cái cũ trong thân tâm và đưa những cái mới vào để cơ thể được khỏe mạnh, ngoại hình dễ coi và cuộc sống an lạc, phải có một ngày an lạc, cho đến một đời an lạc; đó là sự đổi mới trước tiên trên bước đường tu. Nhiều người nghĩ lầm rằng phải có tiền, phải có thế lực, mới có cuộc sống an lạc. Nhưng Phật tử vào đây tu học được an lạc mà không cần tiền, chỉ việc tu học thì có cơm ăn, chỗ nghỉ, không bận tâm lo lắng đến đời sống vật chất trong một ngày tu. Thật vậy, Ban Tổ chức khóa tu cố gắng điều chỉnh việc ăn uống và sinh hoạt tu học cho quý vị, để các Phật tử khắc phục được nghiệp ăn uống, ngủ nghỉ. Kết quả là đến nay, nơi tu học của chúng ta đã có những tiện nghi tương đối tốt để giúp cho thân và tâm của các Phật tử được an lạc. Và được an lạc, giải thoát rồi, Ban Tổ chức chúng tôi lại tiếp tục có sự đổi mới tốt hơn nữa, nhằm xây dựng cho Phật tử những kiến thức có thể thâm nhập pháp Như Lai.

Đức Phật dạy trong kinh Pháp Hoa rằng tất cả mọi người đang sống trên thế gian này giống như  đang sống trong Nhà lửa; cho nên, điều quan trọng trước nhất là phải thoát ra khỏi Nhà lửa, để chúng ta được an lạc. Khi các Phật tử còn sống hơn thua phải trái, bám theo danh lợi, là đang bị lửa tham sân si đốt cháy, làm cho đau khổ. Chính vì vậy mà quý vị vào khóa tu này để tìm được một ngày an lạc, cho đến một đời an lạc; nói cách khác, quý vị chạy ra được Nhà lửa tam giới bằng cách áp dụng Tam thừa giáo là phương tiện của Đức Phật để lại.

Đức Phật cho biết cuộc  sống cao sang, tiện nghi  và tham vọng thì càng  làm cho con người khổ đau. Bỏ tham vọng mới được giải thoát và Đức Phật đã làm thí nghiệm cho chúng ta thấy điều này. Ngài từ bỏ cuộc sống nhung lụa, dấn thân trên con đường cát bụi với một y một bát, sống cuộc đời khổ hạnh; nhưng Đức Phật vẫn an lạc giải thoát, để giúp chúng ta nhận thức được rằng cuộc sống an lạc không đòi hỏi vật chất nhiều như chúng ta nghĩ tưởng. Vì vậy, đệ tử Phật học giáo lý, nhận ra ý này và thay đổi cuộc sống theo cách Phật dạy, thân tâm liền an lạc.
Riêng tôi, thuở nhỏ thường nghĩ rằng Phật có đầy đủ cuộc sống vật chất tốt đẹp nhất của thế gian này mà Ngài còn từ bỏ một cách dễ dàng, thì mình có gì đâu mà không bỏ được. Nhờ ý thức như vậy, tôi vững tiến trên đường đạo và từng bước dấn thân hành đạo, có được những đổi mới tốt lành. Và đổi mới quan trọng là chúng ta thấy rõ vật chất không cần nhiều trong cuộc sống của mình, cho nên cái gì cắt được là cắt ngay, khiến tôi có cảm giác bỏ được một phần tham cầu nào là mình giải thoát liền phần đó.
Thiết nghĩ trên bước đường tu của chúng ta, cần có sự thay đổi lần về nhu cầu vật chất, về tiện nghi vật chất, không để mình bị lệ thuộc nhiều vào nó. Còn ngược lại, xã hội thay đổi thì mỗi ngày có thêm tiện nghi vật chất, nhưng tôi cảm giác rằng càng sống tiện nghi thì càng lệ thuộc nhiều vào vật chất và tất nhiên người ta có cái giá phải trả, trả bằng tiền bạc, bằng công sức, bằng công đức. Đến khi tiền bạc, công sức và công đức không còn là rơi ngay vào cảnh sống khổ sở, cho đến khổ cùng cực là rớt xuống địa ngục. Thực tế cho thấy những người lao vào cuộc sống vật chất, muốn ăn ngon thường vào nhà hàng, muốn ở sang họ vào khách sạn; nhưng nghĩ xem họ ăn nhà hàng và ở khách sạn được mấy ngày, mà quen hưởng thụ đến khi không được nữa, chắc chắn là sẽ bị cơn thèm muốn hành hạ dày vò họ.
Chúng ta thay đổi cách sống, tu một ngày an lạc, chẳng những không tốn tiền, không phải bận tâm đến ăn uống, mà cả thân tâm đều được tự tại giải thoát. Đức Phật ôm bình bát đi khất thực là cũng thể hiện ý này. Người đời thích ăn ở sang trọng, họ phải bị lệ thuộc vật chất, bị khổ; trong khi Phật ăn đơn giản cũng sống mà còn sống tốt, sống giải thoát, sống an lạc, sống tự tại. Như vậy, Đức Phật đã chuyển đổi từ cuộc sống vật chất tiện nghi nhất sang đời sống vật chất thấp nhất, cho chúng ta thấy Ngài không còn lệ thuộc vật chất và hơn thế nữa Ngài đã phát huy đời sống tâm linh đến tuyệt đỉnh mới là cao quý.
Và khi thay đổi thân tâm như vậy sẽ tạo ra sự ức chế tâm lý không nhỏ. Quyết tâm tu hành, để chống lại sự ức chế này, Phật dạy chúng ta quán Không, tức đời sống tâm linh mở ra là bước vào Không giải thoát môn. Trước khi theo Phật, chúng ta sống với vọng thức vọng trần nên thường nghĩ phải trái, tốt xấu, ngon dở, v.v… mới bị ngoại cảnh chi phối, bị người khác tác động. Nay chúng ta quán tất cả các pháp đều Không, cho nên không quan tâm đến vật chất và cũng không quan tâm đến thân mình. Và từ bỏ được sự tham đắm tài sản vật chất, từ bỏ được sự tham đắm thân này, nghĩa là an trụ được pháp Không và ngã Không, để cuối cùng đạt được tất cánh Không. Đó chính là cánh cửa tâm linh mà Phật đã đi vào khi Ngài thâm nhập thiền định tại Bồ Đề Đạo Tràng.
Từ cuộc sống hệ lụy vật chất, chúng ta làm mới sự tu hành của mình là không bị vật chất ràng buộc và an trụ tất cánh Không, tất cả đều Không, thì chúng ta cắt đứt được tham vọng và tham ái mất sẽ làm cho sân hận không thể tồn tại được, từ đó cánh cửa giải thoát mở ra. Đức Lục tổ Huệ Năng ngộ được pháp Không này, mới nói rằng :
Bồ đề bản vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai.
Vì “Bản lai vô nhất vật”, cho nên Ngài không vướng bận gì cả. Nhập Không môn như vậy, Ngài liền được giải thoát an lạc và được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ấn chứng quả giải thoát này.
Và chúng tôi muốn nhắc nhở Phật tử yếu nghĩa của sự an lạc tất cánh Không này. Vào đây tu học, nếu quý vị nghĩ tưởng đến những thứ khác thì vẫn sẽ khổ vô cùng. Còn biết buông bỏ, tâm sẽ nhẹ nhàng, giải thoát. Ở trong tất cánh Không, nhưng có được những cái mà người thường không thể hiểu, gọi là chơn không diệu hữu. Tuy nói không, nhưng không phải không có gì hết đối với bậc chân tu. Vì nhận ra cốt lõi này mà người thế gian mới nói rằng “Của vua thua của Phật”. Vì vua trụ ở pháp hữu, nên cái có của họ bị giới hạn. Của Phật thì vô cùng, vì Ngài an trụ pháp Không. “Bản lai vô nhất vật”, nhưng có vô tận tạng công đức gắn liền với ta, không ai lấy được; còn tạng hữu vi thì người ngoài chiếm lấy được.
Cuộc đời giáo hóa độ sinh của Đức Phật đã thể hiện rõ nét yếu nghĩa của “Vô nhất vật trung vô tận tạng”.  Ngài không nắm giữ bất cứ tài sản nào trong tay, nhưng sự nghiệp của Phật quá vĩ đại, nhân loại trong năm châu bốn biển đều quy ngưỡng Ngài.
Vô tận tạng công đức của Phật, chúng ta không thấy bằng mắt, cho nên không ai chiếm đoạt được; nhưng không phải là không có. Nhận thức như vậy là chúng ta bắt đầu có cái nhìn khác về Đức Phật. Nếu nhìn theo thế gian, thì bảo Phật bỏ của cải vật chất để làm Sa môn trắng tay, là người xin ăn. Nhưng đối với người có đời sống tâm linh, Đức Phật đã từ bỏ những gì đáng bỏ; vì những gì thuộc vật chất thì không thể tồn tại lâu dài, kể cả thân mạng của con người. Đức Phật bỏ thân mạng hữu hạn để có được sự chuyển đổi lớn lao nhất là Ngài có thân mạng vô cùng.
Nếu Đức Phật không có thân mạng vô cùng, thì Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài cũng bị diệt theo; nhưng vì Phật đã đưa sức sống của Ngài vào vô cùng, cho nên giáo pháp mới trở thành vô cùng. Theo Pháp Hoa, chỗ Phật ngộ là Pháp thân vô cùng. Chúng ta cũng có Pháp thân, nhưng vì thiếu Báo thân viên mãn, cho nên không sử dụng được Pháp thân. Phải thành tựu Báo thân viên mãn và Báo thân này thâm nhập tất cả các pháp, chúng ta mới sử dụng được Pháp thân vô cùng của mình. Còn thân tứ đại này theo quy luật sinh diệt, thì chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, điều quan trọng của loài người hơn các loài khác, đó là nương vào cái thân hữu hạn, để chúng ta tạo ra cái thân vô cùng; nói cách khác, tìm ra Pháp thân vô cùng trong thân sinh diệt hữu hạn của con người. Và chuyển đổi thân mạng hữu hạn thành Pháp thân vô cùng là tu theo Phật.

Báo thân là phước đức và trí tuệ mà chúng ta tu tạo được và chết mang theo sang đời sau; còn tất cả những gì thuộc về vật chất đều phải trả lại thế gian, không giữ được. Vì vậy, nếu ta tạo phước đức đời này, tái sinh sẽ giàu có, được kính trọng; nếu ta học Chánh pháp, tâm trí thông minh, ta sẽ mang theo sự thông minh sang đời sau. Nhưng Đức Phật dạy rằng chúng ta nên đem phước đức trí tuệ mình có, tức Báo thân đầu tư vào các pháp để chuyển đổi nó thành Pháp thân, thì mới trở thành lực tác động vô cùng và phát triển rộng khắp Pháp giới. Kinh Pháp Hoa lấy ví dụ hoa sen nở kết thành gương sen có hạt sen. Hạt sen rụng xuống, ở trong bùn thành cây sen khác. Ý này được Phật diễn tả là thế gian tướng thường trụ; cụ thể là đem phước đức trí tuệ đầu tư cho con người, đầu tư cho thế hệ kế tiếp thì người nhận được phước đức và trí tuệ của ta cho sẽ có sinh mệnh gắn liền với ta; nghĩa là trong tâm trí của họ đã ghi lại hình ảnh tốt đẹp của ta, đã ghi dấu việc làm tốt đẹp của ta, đã in đậm có lời khuyên dạy của ta, v.v… Đó chính là sự thay đổi nằm trong sinh mệnh tương tục.


Tóm lại, nhận chân sâu sắc rằng Phật và Bồ tát từ bỏ những gì thuộc vật chất hữu hạn để được những Thánh tài vô cùng, không phải bỏ để mất. Tu học theo Phật, chúng ta cũng tập xả bỏ những cái đáng bỏ, chuyển đổi đời sống vật chất và tâm linh theo hướng thánh thiện, để lưu giữ và phát huy những của báu cần thiết cho lộ trình Bồ tát đạo là phước đức, trí tuệ, cho đến ngày viên mãn được Báo thân, chuyển đổi thành Pháp thân vô cùng. Được như vậy là thành tựu được sự đổi mới có ý nghĩa nhất và cao quý nhất của người đệ tử Phật trên bước đường tiến tu giải thoát giác ngộ.

HT.THÍCH TRÍ QUẢNG

Quan niệm về Tịnh độ

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 50 tại chùa Phổ Quang ngày 14-12-2008)

Tác giả: HT.Thích Trí Quảng

 

Quan niệm về Tịnh Độ tông – HT. Thích Trí Quảng

Khi dùng từ quan niệm  thì có nhiều quan niệm  khác nhau, vì mỗi người có một quan niệm riêng. Nhưng quan niệm về tịnh độ ở đây căn cứ trên pháp môn tu của Đức Phật dạy và của những vị tiền nhân đã thực tập có kết quả, để chúng ta học theo, áp dụng cho đời sống tu hành của mình.

Trên bước đường giáo hóa độ sinh, trước tiên Đức Phật dạy tịnh độ tự tâm là chính; vì Ngài tu hành đã vượt qua tất cả nghiệp chướng trần lao để thâm nhập thế giới Thường Tịch Quang. Đó là thế giới Pháp thân của mười phương chư Phật đồng một thể, mà ở Bồ Đề Đạo Tràng khi trí giác của Đức Phật đạt đến đỉnh cao là Vô thượng Bồ đề, Ngài mới thấy được toàn Pháp giới hiện ra tịnh độ. Sau đó, Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm là nói tịnh độ tự tâm, là thế giới siêu hình, không phải thế giới vật chất hữu hình hữu hạn.

Thật vậy, Đức Phật nhận thấy rằng tâm hồn ô uế sẽ tạo thành thế giới tội lỗi, xấu xa. Vì vậy, tất cả mọi người trên thế gian này đều muốn có đời sống tốt đẹp, nhưng cái muốn đó thuộc về lòng tham, nên không bao giờ có được. Riêng tôi rất tâm đắc với bài pháp này của Phật dạy. Tại sao những gì chúng ta sợ thì nó tới, những gì chúng ta ước mơ thì không bao giờ được? Vì cái chúng ta sợ là nghiệp của mình, cho nên nó nhất định tới. Thử nghiệm lại cuộc đời chúng ta xem từ khi sinh ra cho đến nay, đã làm gì, nợ bao nhiêu người và người nào nợ mình. Nếu mình mắc nợ nhiều, mà đi đâu cũng gặp chủ nợ, thì chắc chắn mình phải sợ. Nhưng Phật dạy rằng Bồ tát và Thánh tăng đối diện với thực tế và giải quyết êm đẹp tất cả nợ nần oan trái đã tạo, tịnh độ sẽ có, không phải sợ gì cả.

Phật dạy chúng ta sợ thì phải tìm cách trả nợ, nợ từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay đã vay quá nhiều. Còn người sợ mà cứ vay thêm để mong khá lên, để trả được nợ cũ, nhưng nợ chồng chất ngập đầu, không có lối thoát, không thể nào trả nổi. Theo Phật, hiểu đạo, có trí tuệ, sẽ thấy rõ nhân quả, chúng ta không tạo nghiệp ác nữa, mà chỉ tạo thiện nghiệp.

Tìm cách trả nợ cũ, không vay nợ mới, bằng cách nào ? Phật dạy phải sống thiểu dục tri túc, nghĩa là chi phí cho bản thân nên giới hạn tối đa, ăn ít, ngủ ít, ở đơn giản, để hạn chế chi phí cho mình, còn thặng dư mới trả nợ được. Theo kinh nghiệm riêng tôi, từ khi xuất gia tu học, luôn dành dụm tiền để trả nợ đời trước và để có điều kiện làm phước trong đời này, thì mới tích lũy được công đức. Vì vậy, việc ăn mặc giảm tối đa. Vào Ấn Quang làm học Tăng, tôi chuyên lượm đồ tang của Phật tử xả tang vứt bỏ, sửa lại và nhuộm vỏ măng cụt để mặc, chứ cũng không có thuốc nhuộm. Suốt một thời gian dài, không tốn tiền mua sắm quần áo và cũng không mua gì ăn, chùa cho gì ăn đó; thậm chí có nhiều cũng bớt ăn, vì biết mình nghiệp nặng, phải lo trả nợ cũ, bằng cách nhường cho người khác ăn để mình bớt nợ. Hạn chế việc ăn mặc một cách tối đa, còn ở thì tìm cách ở không tốn tiền. Sang Nhật tu học, ở trọ chùa để công quả, ngủ chỗ nào cũng được để khỏi tốn tiền, vì sáng sớm đi học đến tối mới về, chỉ cần có chỗ ngủ qua đêm, rồi sáng đi học nữa. Không tốn kém cho bản thân và gặp việc thì hết lòng làm để trả nợ cũ từ nhiều kiếp quá khứ, cũng như để tạo nhân lành mới, bằng cách sẵn lòng giúp đỡ kiến thức và tiền của cho người khác. Vì vậy, trải qua gần 60 năm hành đạo, đối diện với cuộc đời và những chủ nợ cũ từ quá khứ, tôi đã thanh toán xong, nên không còn ai đòi nợ nữa, là biết oan gia nghiệp chướng đã hết. Từ đó, mảnh đất tịnh độ từ tâm hiện ra.

Đức Phật dạy rằng vô não, vô ưu, chơn Cực lạc; nghĩa là lòng chúng ta không buồn giận, không lo sợ, cho đến tâm thanh tịnh, thì đó là chốn Cực lạc thật sự. Không lo, không buồn, không sợ, không giận, vì không có việc gì khiến chúng ta phải lo buồn, giận sợ, chứ không phải chúng ta dửng dưng trước hoàn cảnh. Đừng hiểu lầm ý nghĩa của “không lo” rồi sống không biết lo, kể cả không lo tu thì trở thành gỗ đá, trở thành kẻ vô trách nhiệm hay sao. Trước kia, chúng ta lo vì phải trốn tránh chủ nợ, nợ đời này và nợ của nhiều đời trước nữa, không biết họ đến đòi lúc nào; nhưng nay, không lo nữa vì tất cả nợ cũ đã thanh toán rồi, cho nên không còn nợ để lo nữa.

Chẳng những không lo, mà cũng không buồn. Tại sao không buồn ? Người thế gian thường buồn khổ vì bị lường gạt, bị giựt tiền của, bị thua thiệt trong việc làm ăn, bị mất uy tín, mất người thương, v.v…  Nhưng chúng ta bước theo dấu chân Phật, tâm đã huân tập thật đầy pháp Phật, trong lòng chúng ta đã có đủ những gì tốt đẹp nhất, không thiếu Thánh tài nào cả, có Phật, có Bồ tát, có Thánh chúng, nghĩa là đã xây dựng được tịnh độ tự tâm cho mình rồi. Tôi ngồi yên, thấy Phật, thấy Bồ tát đồng học, cuộc sống trầm mặc an lạc, giải thoát như vậy, thì không thể buồn, không thể cảm thấy đơn độc.

Đức Phật khi còn là thái tử được vua cha nuông chìu, xây dựng ba cung điện với những tiện nghi thích hợp cho mùa Đông, mùa Hạ và mùa khô để Ngài ở được khỏe khoắn. Nhưng Đức Phật đã nhận thấy cuộc sống sung sướng như vậy được xây dựng trên đau khổ của biết bao nhiêu người, nghĩa là mang nợ người khác và nếu món nợ này chồng chất thì không biết làm sao trả nổi. Đức Phật đã từ bỏ gánh nặng trần gian đó, dấn thân trên con đường cát bụi, một mình một bóng ẩn tu chốn núi rừng để lặn sâu vào đời sống nội tâm. Ngài bỏ đời sống cao sang và coi đó là ngục vàng đang giam hãm mình. Ngài xuất gia, sống cuộc đời phạm hạnh và cảm thấy lòng thật vô cùng an lạc, mới nói rằng con đường cát bụi gai góc nhưng là con đường huy hoàng nhất của Phật và Bồ tát, thì làm gì có cô độc.

Mới tu, có thể chúng ta thấy đơn độc, nhưng thể nghiệm được pháp Phật, thâm nhập đời sống tâm linh thánh thiện, sự đơn độc tự tan biến. Thật vậy, trên bước đường tu, đi đâu cũng gặp Bồ tát hiện thân dẫn lối đưa đường để giúp chúng ta thăng tiến, hoặc tác động Phật tử tìm đến hỗ trợ chúng ta, tạo thành quyến thuộc Bồ đề. Nghĩa là chúng ta có bạn đồng tu và minh sư chỉ đạo, nên không còn cô độc trong cửa Phật. Bước đầu tôi đi một mình, nhưng vào Phật học viện Ấn Quang, tôi có 40 người bạn đồng tu và được các vị Hòa thượng hướng dẫn. Vì vậy, sống đời xuất gia, từ bỏ phiền não và chấp nhận cuộc sống cô độc, để sau đó, sống cùng thầy hiền bạn tốt gọi là an trú trong học xứ Bồ tát, thì chúng ta được khai tâm; nhờ đó Phật pháp sáng lần, mới mở ra cho chúng ta cánh cửa tịnh độ.

Hoặc các Phật tử tu học tại khóa tu Một ngày an lạc, đầu tiên, có bạn đồng tu học. Nếu quyết tâm tu, quý vị sẽ thấy người nào cũng là bạn mình, nên cảm thấy vui và nghe chư tôn đức giảng dạy, tâm quý vị được khai mở. Từ tâm an lạc một ngày, làm cho quý vị thanh tịnh, nên hướng được tâm đi xa hơn, là hướng về các tịnh độ của chư Phật, trong đó chúng ta có tịnh độ của Đức Phật Di Đà. Và từ tịnh độ nội tâm biến thành tịnh độ hiện thực trong cuộc sống. Phật dạy rằng thế giới tốt hay xấu đều do chúng ta tạo nên. Người hung dữ, kiêu căng tạo thành thế giới tội lỗi. Người thanh tịnh tạo nên tịnh độ.

Đức Phật Thích Ca giới  thiệu cho chúng ta thế  giới Cực lạc của Đức Phật Di Đà. Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ thứ bảy, Phật Thích Ca và Phật Di Đà đều là con của Đức Đại Thông Trí Thắng. Đức Phật này khi còn làm vua có 16 vương tử đều có khả năng lãnh trị bốn phương, tức các Ngài cai trị chỗ nào, dân chúng cũng được an lạc. Khi vua cha thành Phật Đại Thông Trí Thắng, 16 vương tử cũng bỏ ngôi theo Ngài tu hành và mỗi vị có tâm niệm khác, có hạnh nguyện khác, cho nên tạo thành các mô hình Tịnh độ của các Ngài khác nhau. Vì vậy, học tấm gương của các vị này, việc tu hành của chúng ta phải có định hướng, phải tới đích. Nếu không chọn định hướng, thuyền cứ quanh quẩn vào ra bến cũ mãi, đi một vòng rồi chúng ta cũng trở lại sinh tử luân hồi.

16 vương tử học đạo với Đức Phật Đại Thông Trí Thắng, nhưng các Ngài đều có định hướng khác nhau và theo các hướng đó mà đi tới. Kết quả là hai vị thành Phật ở phương Đông là A Súc Phật, Tu Di Đảnh Phật, hai vị thành Phật ở phương Đông Nam, hai vị thành Phật ở phương Nam… và Đức Thích Ca thành Phật ở phương Đông Bắc. Con đường của Đức Phật Thích Ca chọn là Giáo chủ ở Ta bà, tức Ngài  nguyện sống mãi với những người đầy nghiệp chướng phiền não. Ngài chọn cuộc sống ở ngay trong cõi ngũ trược ác thế này để thành tựu quả vị Vô thượng Bồ đề.

Đức Phật Thích Ca chọn ở Ta bà để độ sanh thì Ngài phải chấp nhận thực tế của thế giới này, nghĩa là chấp nhận những người hung dữ, tham lam, ngu dốt… làm đối tượng cho Phật tu hành, giáo hóa. Tại sao Đức Phật Thích Ca lại chọn đối tượng kinh khủng như vậy để hóa độ? Vì Ngài có hạnh nguyện muốn làm những việc khó làm. Trong khi Đức Phật Di Đà chọn con đường khác, Ngài tìm một thế giới thật xa để dựng nghiệp. Nói theo ngày nay là đi tìm miền đất mới để khai thác, vì ở mảnh đất cũ này không tốt.

Chọn đối tượng ở ngay Ta bà để chuyển hóa họ là tu theo Phật Thích Ca; chọn thế giới khác để sống là tu Tịnh độ theo Phật Di Đà. Riêng tôi theo Phật Thích Ca, nên chọn tu kinh Pháp Hoa, phát nguyện đời đời kiếp kiếp làm hành giả Pháp Hoa, tuyên dương Phật pháp ở thế giới này. Và phát nguyện như vậy, tôi ở lại Ta bà mà không cảm thấy cô độc, vì được Đức Phật Thích Ca phóng quang gia bị cho tôi đủ sáng suốt, đủ nghị lực để hành đạo nơi cõi ngũ trược này. Tôi thấy ở đây tu thích hợp với tôi, vì có người ngang bướng, tôi có điều kiện thực tập được hạnh nhẫn nhục, bằng mọi cách phải mỉm cười được với người hung ác với mình. Không có người nghèo đói, làm sao chúng ta thực hiện hạnh bố thí. Có người kém hiểu biết, chúng ta mới làm thầy được, có người hoạn nạn, chúng ta mới có cơ hội giúp đỡ. Họ thiếu thốn, chúng ta cho một chút xíu, họ cũng vui. Tôi không về Tịnh độ, vì ở đó tất cả đều tốt, thì mình tu cái gì, ở đó ai cũng giàu thì làm sao mình bố thí. Còn ở Ta bà có rất nhiều việc để tôi làm.

Tuy nhiên, tu Pháp Hoa, Đức Phật mở ra cho chúng ta một con đường nữa, không phải tuyệt đối ở Ta bà. Vì đối với người nợ nhiều, nghiệp nặng, thì không có cách gì khác hơn là phải trốn nợ. Ở Ta bà không làm được, vì chúng ta vừa nghèo, vừa bệnh, vừa ngu và toàn những việc không tốt xảy đến cho mình. Vì vậy, Đức Phật mở ra cho chúng ta pháp tu Tịnh độ để chúng ta được vãng sanh; đó là pháp trốn nợ, nhưng không phải trốn luôn. Khi quyết tâm niệm Phật, được vãng sanh về Cực lạc, được nhiều tiền của và nhiều điều cực kỳ tốt đẹp, thì phải trở về Ta bà hành Bồ tát đạo.

Điển hình là Thuận Trị Hoàng đế, cha của vua Khang Hy, gặp Ngọc Lâm Quốc sư khai ngộ, bảo cho ông biết rằng thật sự ông là dân Mãn Châu rất yếu kém, mà lại đánh thắng nhà Minh hùng cường, rồi lên làm vua thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn, lập nên nhà Thanh, sự thành công như vậy không đơn giản chút nào. Đó là vì vua Thuận Trị ở Tây phương Tịnh độ sinh lại Ta bà này, để trả nợ cũ. Ông mang theo một khối công đức và trí giác của Cực lạc mà trở lại Ta bà thì ông thừa sức trả nợ cũ và còn dư phước báu nữa, cho nên quần thần mới hết lòng với vua Thuận Trị. Trong suốt 17 năm chinh chiến, ông đánh đâu thắng đó và được dân chúng nhiệt tình ủng hộ, vì ông hiểu họ, giúp đỡ họ; nói cách khác, họ đã từng thiếu nợ ông, nên họ quy phục và hợp tác với ông, giúp ông lật đổ nhà Minh một cách dễ dàng.

Nhờ Ngọc Lâm khai ngộ, vua Thuận Trị bừng tỉnh rằng tại sao đã qua Cực lạc tạo được công đức, rồi lại về Ta bà tạo nghiệp mới, chinh chiến chém giết làm chi, để tạo một gánh nặng tội lỗi và phải đọa địa ngục hay sao. Ý thức như vậy, nhà vua đã bỏ ngôi vua, ẩn thân nơi Ngũ Đài sơn, quyết tâm tu hành.

Đến khi vua Khang Hy lên nối ngôi, tương truyền rằng trên lưng ông có một bớt son ghi hàng chữ “An Nam quốc sa diệt Tỳ kheo”. Vì trong tiền kiếp, ông là Tăng sĩ Việt Nam, đã đắc đạo, nên biết kiếp tới, sẽ tái sinh ở Trung Quốc. Ông sợ quên việc tu hành, mới nhờ người viết lên lưng ông một câu như vậy. Vua Khang Hy là người đã cho dịch thuật nhiều kinh điển, trong đó nổi tiếng có quyển Khang Hy Từ điển là quyển từ điển đầu tiên của Trung Quốc. Và tiếp theo là vua Càn Long phát nguyện gặp chùa thì trùng tu, gặp Tăng thì cúng dường. Phải nói ở thời nhà Thanh, Phật giáo Trung Quốc phát triển rất mạnh và phổ biến pháp môn Tịnh độ; người Việt Nam đã chịu ảnh hưởng pháp môn Tịnh độ từ đây. Còn trước kia, từ thời Phật giáo du nhập cho đến thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Phật giáo Việt Nam theo Thiền tông. Từ thời hậu Lê đến thời Nguyễn, người tu Tịnh độ nhiều hơn, sách vở truyền sang nước ta phần lớn thuộc về Tịnh độ.

Có thể khẳng định rằng người Việt Nam đều biết niệm Phật Di Đà, còn các pháp môn khác thì số người biết có phần hạn chế hơn. Thiết nghĩ người tu ở đất nước chúng ta có nhân duyên rất đặc biệt với pháp môn Tịnh độ, có lẽ vì ở thế giới Ta bà này quá khổ, cho nên nhiều người phát nguyện sinh về Cực lạc để được thân cận toàn là Phật, Bồ tát, Thánh giả và nương theo các Ngài mà thân tâm dễ dàng được an lạc, dễ tiến tu đạo hạnh.

Hôm nay, nhân ngày vía Đức Phật Di Đà, tôi gợi ý cho những hành giả có nhân duyên với Đức Phật Di Đà, đã chọn định hướng vãng sanh Cực lạc, thì nên nhớ rằng sau khi gặt hái được phước đức và trí tuệ ở Cực lạc rồi, cần trở lại Ta bà để hành Bồ tát đạo, để trả nợ cũ và hướng dẫn nhiều người tiến tu đạo hạnh giải thoát. Làm được như vậy là thể hiện hạnh Bồ tát, trang nghiêm cho hành giả phước đức và trí giác, nuôi lớn Báo thân của hành giả, tức mở rộng Tịnh độ của riêng mình và đồng thời cũng mở rộng được Tịnh độ tại thế giới Ta bà này. Bấy giờ, hành giả chính là vị khách quý của thế gian mà mọi người luôn mong đợi và quy ngưỡng, là chỗ nương tựa quý báu vô cùng của tất cả chúng sinh trong sáu đường sinh tử, là sứ giả của Đức Phật Thích Ca, của Đức Phật Di Đà và của mười phương chư Phật vậy.

HT.Thích Trí Quảng

ĐỌC THÊM TẠI TRANG WEB GIÁC NGỘ ONLINE VỀ TỊNH ĐỘ TÔNG:

Khóc và Cười

 

Ai nói đi tu là đã chấm dứt hỉ, nộ, ái, ố của thế gian.

Ai nói đi tu là mất cảm giác, không còn đau khổ vui buồn nữa.

Tôi Khóc

 

Tôi khóc cho những kiếp người, kiếp súc sanh, từ loài hữu hình đến loài vô hình còn đang trôi lăn trong sông mê bể khổ của vô minh và tham đắm ái dục chưa biết ngày nào có thể thoát ra. Chúng sanh vô minh đang ăn, uống, ngủ, nghỉ, đùa vui, hưởng thụ dục lạc trong căn nhà lửa Tam giới, có biết đâu rằng mình đang chết dần, chết mòn và sẽ chết đọa. Người thoát ra khỏi căn nhà lửa, đứng ở ngoài nhìn vào bên trong, đang hô hào mọi người dập lửa, la hét, kêu gào họ hãy mau chóng thoát ra ngoài, nhưng có mấy ai thức tỉnh để chịu lắng nghe, có mấy ai chịu hiểu để dập lửa và thoát thân. Chỉ chờ cho ngọn lửa lan vào người mới kêu gào, hoảng loạn, sợ hãi, khóc than, buồn phiền, rầu rĩ. Dục lạc thế gian như thứ thuốc mê, làm tê liệt hệ thần kinh trung ương, chỉ còn chờ thời gian tỉnh thuốc mê, mọi người sẽ tỉnh dậy ngơ ngác, bơ vơ, trống rỗng và lạc lõng và hỏi những câu hỏi muôn thuở: “Ta là ai?” “Đời là gì?” “Đạo là gì?” và “Đạo ở đâu?”.

Tôi khóc vì bao nhiêu năm tháng qua của đời người, tôi đã từng sống trong vô mình tăm tối, của thế giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, của giận dữ, tham lam và si mê và cho đến ngày hôm nay, đã tìm ra con đường của ánh sáng chân l‎ý – một phương tiện  có thể cứu hết tất cả muôn loài vạn vật, cứu tất cả ông bà, cha mẹ, cửu huyền thất tổ đang còn trôi lăn trong luân hồi khổ sở, cứu tất cả anh chị em, bạn bè, người thân xung quanh mình. Một phương tiện – một con thuyền chuyên chở tất cả không phải bằng vật chất, bằng tiền bạc, không phải bằng tình thương ôm ấp xác thịt, những cái ôm hôn và giọt nước mắt chia ly quyến luyến, những cái bắt tay lưu luyến nồng hậu, không phải bằng những tháng ngày cung phụng, gần gũi, hầu hạ, không phải bằng tất cả những gì có thể thấy được bằng mắt thường nhục nhãn của con người.

Mà tôi cứu tất cả và ôm trọn vào lòng tất cả, đền đáp tất cả bằng sự tu hành tinh tấn của tôi.

Bằng con thuyền Bát Nhã, bằng trí tuệ Bát Nhã để từ bỏ dục lạc, tham đắm ái dục của bản thân, danh vọng, tiền tài, địa vị, ăn, uống, ngủ, nghỉ tầm thường. Chỉ có bằng con đường Bồ Tát Đạo, tôi mới có thể cứu tất cả.

Bằng sự tinh tấn siêng năng không mệt mỏi mới có thể cứu thoát tất cả.

Bằng tình thương yêu rộng lớn không bờ bến mới có thể cứu thoát tất cả.

Tôi khóc khi tưởng nhớ đến hạnh nguyện của các vị Phật, Bồ tát và các vị cao tăng từ trong muôn kiếp quá khứ, hiện tại và tương lai, công đức và hạnh nguyện của các Ngài không thể nào tính đếm xuể, còn mình thì lại quá nhỏ nhoi, tầm thường chưa làm được gì để đền đáp xứng đáng với công đức lớn lao ấy. Dù có nỗ lực tinh tấn hy sinh hết mình trọn kiếp này cũng không thể nào báo đáp, đền ơn sự hi sinh vĩ đại của các vị Phật, Bồ Tát và các vị thượng thiện nhân. Mình thật tầm thường nhỏ bé, suy nghĩ cạn cợt, thiếu trí tuệ ví như cỏ rác, lá khô rụng trải trên đường hành đạo cho các vị Phật và Bồ tát và A-la-hán đạp bước qua mà thôi.

Tôi khóc vì nhân duyên xuất gia chưa đến với mình lúc này. Tu là cội phúc, tình là dây oan. Tình là tình thương với gia đình, cha mẹ, anh chị em…còn vướng mắc nặng nề chưa thể cắt rời đoạn tuyệt một cách hoàn toàn. Một khi tôi đi, thì mọi người lại rơi vào đau khổ, oán giận và có thể mang thành kiến không tốt đối với Tam bảo, là đoạn tuyệt con đường đi đến với Đạo và Phật pháp đời sau và nhiều kiếp sau nữa.

Tôi khóc vì còn phải mang thân hình hài con người thêm 1 kiếp nữa, cái thân dơ bẩn đầy rẫy tội lỗi, chứa đầy mầm mống của 3 con rắn độc Tham-Sân-Si huân tập qua nhiều đời nhiều kiếp và không biết bao lâu nữa mới diệt trừ được hoàn toàn diệt tận mầm mống của tội ác.

Tôi khóc vì còn phải dính mắc vào chuyện thế gian hồng trần, vì còn phải làm trọn bổn phận làm Người, phải đụng chạm với chúng sanh, mà đã gọi là chúng sanh phàm phu thì mấy ai mang nổi 1 đức tính của Thánh nhân. Con đường tu không trọn vẹn khi xác thân này còn phải dính mắc với thế gian phàm tục quá nhiều. Trong đời ngũ trược ác thế mạt pháp này, sống với cảnh đời ô trược, đi tới đâu dù nước nghèo chậm phát triển hay nước giàu có phát triển cũng thấy sự ô nhiễm theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trốn chạy, né tránh, tàng hình cỡ nào đi chăng nữa cũng thấy sự nhiễm ô và phiền não gõ tận cửa phòng “cộc cộc”, làm sao thân tâm ta được an lạc tự tại như các vị cao tăng, làm sao mà đắc đạo ngay trong kiếp này.

Tôi khóc vì lúc đạt được trạng thái vô ngã trống rỗng – cảnh giới của Phật và Bồ tát quá ngắn ngủi, lúc đạt được thì lại bị cuộc đời và con người cõi phàm trần này kéo dựt hồi ngược lại. Đi ra đi vô, lúc xuất lúc nhập không khi nào được bình yên 1 cách hoàn toàn vĩnh cữu. Ví như 1 người đang trốn nợ đời mà chủ nợ luôn luôn đi theo sau đòi cho bằng được, không trả không được. Nghiệp trần chưa dứt. Tâm trạng như đang đứng trên ngưỡng cửa tử thần, dưới là tam đồ khổ, trước mặt là cảnh giới tịnh độ, sau lưng là nợ đời chưa trả xong. Còn nỗi khổ nào hơn nữa! Quả bong bóng trống rỗng thanh thản muốn dứt dây bay cao bay rộng trong bầu trời tự do tự tại, nhưng lại bị người đời buộc lại bằng sợi dây thừng, làm sao mà bay nổi. Tâm tuy đã dứt cảnh trần nhưng bị Nghiệp giữ rịt lại. Thân này xác này làm sao giam giữ nổi 1 tâm hồn không ở đây nữa rồi. Chỉ biết trả cái Nghiệp thân xác, cái Nghiệp Ta bà này cho sớm rồi quy tụ với bậc thánh nhân trên cõi tịnh độ Tây Phương cũng chưa muộn.

Thôi thì tôi khóc 1 lần nữa cho chúng sanh và tôi khóc 1 lần nữa cho bản thân mình, rồi kể từ lúc này tôi sẽ cười.

Tôi Cười

Tôi cười vì nay đã hiểu được 1 số ý nghĩa lời đức Phật dạy ẩn tàng trong kinh điển mà trước kia vì vô minh che lấp, còn ngã chấp tham cầu nên không hiểu được. Cứ ngỡ mình thật ngu si, nhưng nếu biết từ bỏ tất cả, không chấp vào bất cứ cái gì, niệm Phật tụng chú với tâm vô ngã thì lúc đó vầng trăng trí tuệ tự hiển bày, tự hiểu biết lấy, nhìn mọi vật như ánh mắt từ bi của Phật, thấy mọi thứ như đức Phật thấy, hành động như đức Phật hành động. Tuy không thể ngộ được toàn bộ ý nghĩa giáo pháp cao siêu (có mấy ai tự vỗ ngực xưng tên mình đã hiểu được trọn bộ giáo pháp Như Lai bao giờ) nhưng ít ra cũng hưởng được vị An lạc giải thoát tự tại trong kiếp này mà không tiền bạc nào có thể mua nổi, không có 1 thứ thuốc giảm đau nào có thể trị được vì không một ai có thể làm cho tâm ta an lạc ngoài chính chúng ta.

Tôi cười vì tôi đã biết buông bỏ tất cả, nhưng lại được tất cả những gì mà mình mong muốn, tiền bạc, đô la, kim cương, nhà lầu, xe hơi ở cõi Ta Bà làm sao mà sánh nổi với châu báu cõi trang nghiêm Tịnh độ. Vật chất đó không quan trọng bằng Trí Tuệ mà người tu đạt được, đó chính là kho tàng quí báu mà suốt đời luôn luôn trau dồi tinh tấn.

Tôi cười vì tôi biết xung quanh tôi luôn luôn có thiện tri thức đi theo nhắc nhở để tu hành. Tôi cười vì tôi biết luôn luôn có Phật và Bồ tát luôn quan sát quá trình tu tập và hộ trì cho tôi. Tôi cười vì tôi biết đã trả lời được 2 vấn đề của kiếp người: Sống và Chết.

Tôi cười vì tôi sẽ không còn mang cái thân Người dơ bẩn này nữa, mà sẽ hóa sanh vào thai sen, thân vàng ròng tỏa hào quang rực rỡ, đó là Chánh Báo đạt được qua 1 quá trình tu tập bố thí, tinh tấn, nhẫn nhục, trì giới, thiền định và trí tuệ cả 1 đời người có được.

Tôi cười vì tôi biết mình sẽ không sanh ra cõi Ta bà ô nhiễm này nữa, không còn tái sanh làm Người nữa, không còn phiền não của ái nhiễm nữa, không còn riêng cha mẹ, gia đình, người thân, anh chị em nữa, mà ai ai ở tất cả khắp nơi thế giới vũ trụ đều là bạn bè quyến thuộc người thân của mình và Thầy đạo sư là đức Phật A-di-đà từ bi trí tuệ và bạn bè đồng đạo là các vị Bồ Tát thánh nhân luôn luôn dùng ái ngữ pháp phật để thu nhiếp lòng người làm tâm ta được an lạc vĩnh cửu. Vì sao tôi biết được điều này? Tin vào luật Nhân-Quả, nếu gieo Nhân tâm an lạc chúng ta được an lạc thanh tịnh ngay trong đời này từ bỏ ngũ dục, tu tập tinh tấn thì Quả chúng ta gặt được sẽ là cõi tịnh độ chứ còn ở đâu khác nữa chứ? Ta luân hồi tái sanh vào cõi Ta Bà vì bởi đời trước tâm chúng ta không có nhân an lạc, nên tái sanh vào cảnh trược ô nhiễm này không biết bao nhiêu kiếp. Chúng ta tái sanh là do bởi Nghiệp dẫn dắt lôi kéo, thì nay nếu muốn không tái sanh luân hồi nữa thì hãy dùng Nguyện lực của mình để bứt phá ra khỏi cảnh vô minh tăm tối, tái sanh vào cảnh giới tịnh độ. Cái gì do Nghiệp dẫn thì không có tự do, cái gì do thệ Nguyện thốt ra ra thì cái đó có tự do.

Tôi cười vì đã gieo nhân duyên lành với Phật pháp đời trước, đời này và các đời sau nữa. Mỗi một kiếp tái sanh là 1 lần tiến bộ hơn vì có Phật pháp soi đường dẫn lối không bao giờ lầm lạc vào nẻo tà ma ngoại đạo. Nếu ai chưa có trồng căn lành với Phật pháp thì hãy gieo duyên tu hành ngay bây giờ thì kiếp sau chắc chắn chúng ta có kiếp sống sáng sủa hạnh phúc và trí tuệ hơn.

Tôi cười vì trước khi chết (ai biết ngày mai thức dậy bị tai nạn bệnh tật gì thì sao) những việc cần viết, những gì cần làm, những gì cần nói đã sống trọn, đang và sẽ hy sinh tất cả, không dấu giếm điều gì. Tôi biết sẽ có một ai đó trên khắp thế giới này, từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Úc có duyên lành với phật pháp sẽ luôn luôn quy y Tam Bảo, hướng về Tam Bảo, hy sinh vì Tam Bảo, chỉ có Tam Bảo mới cứu thoát mình và cho mọi người ra khỏi bể khổ trầm luân này mà thôi.

Ai nói đi tu là dứt được vui buồn của kiếp sống nhân sinh.

Ai biết có mấy ai cười và khóc với lòng từ bi, trí tuệ và sự hi sinh không mệt mỏi bao giờ.

 

Nguyện:

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo

 

Nam mô A-Di-Đà Phật

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Vụng tu

Bao ngày khăn gói kiếm đường tu
Biết ở non cao chốn khói mù
Cốc tự nằm trong rừng lá thấp
Am thiền ở cạnh gốc mù u
Leo đồi vững chí mưa che nón
Vượt suối bình tâm nắng đội dù
Mấy tháng đi tìm sao chả thấy
Thôi đành trở lại chốn an cư

 

NALANDA-TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO QUỐC TẾ XƯA NHẤT

Viết bởi Minh Chi

Nguồn: Đại Tạng Kinh Việt Nam

Nalanda University Ruins Bihar

Nalanda nguyên là một vườn xoài lớn, có tên gọi là Pavarika, tại làng Bragoan ở Bihar. Theo truyền thuyết Phật Thích Ca, ngày còn tại thế, sau khi thành đạo, trong các cuộc du hành thường nghỉ chân tại vườn xoài Pavarika này, khiến cho vườn này trở thành một thánh địa Phật giáo. Cũng theo truyền thuyết, Mahavira, giáo chủ đạo Jain đã từng nghỉ ngơi ở đây trong 14 mùa mưa.

Hoàng đế Asoka, 300 năm trước công nguyên, xây ở đây một tu viện lớn, và đến thời Hoàng đế Harsha, khi Huyền Trang qua du học Ấn Độ, Nalada trở thành một trường Đại học Phật giáo quốc tế, thu hút hàng nghìn nhà bác học và sinh viên đến từ nhiều nước xa như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Việt Nam, Indonesia, v.v…

Những khách hành hương kể lại rằng, xung quanh Nalanda, Rajgriha, và Vikrasmila, tập trung nhiều tu viện và chùa chiền  đến nỗi người ta gọi vùng này toàn là Bihara, và  rất có thể tên của bang Bihar hiện nay, xuất phát từ Bihara. Nói cách khác, Nalanda có một bề  dày truyền thống như là một tu viện (Vihara) trước khi nó qua một quá trình nhiều thế kỷ, trở  thành một trường Đại học Phật giáo quốc tế, đồng thời cũng là một trung tâm văn hóa thế giới có  tiếng tăm.

Thời bấy giờ, Nalanda là biểu tượng của tư duy tự  do và học vấn phóng khoáng. Mặc dù mang tên là một trường Đại học Phật giáo, nhưng tại Nalanda cũng dạy và nghiên cứu các ngoại điển, và các kinh điển các tôn giáo khác. Thí dụ, ngoài Kinh, Luật, Luận Phật, ở đây cũng dạy kinh Veda, sách sử Puranas thuộc truyền thống Bà La Môn giáo.

Các môn học khác như Y học, môn học về phát âm, ngữ  pháp của Panini, môn học về ngữ âm, (etymology), môn học Yoga đều được dạy có hệ thống tại Nalanda. Chính Huyền Trang đã học bộ Yagasastra ở  Nalanda. Lạ lùng thay, môn bắn cung cũng được dạy  ở Nalanda. Do đó không thể nói môn Thiền bắn cung Nhật Bản là một sáng tạo riêng của Phật giáo Nhật Bản.

Việc thi tuyển vào học viện Nalanda rất nghiêm túc và khó  khăn. Ban giám khảo cuộc thi tuyển gồm toàn những học giả rất thông thạo về nghành chuyên môn của mình, và nổi tiếng khắp toàn cõi Ấn Độ. Sử liệu cho biết thường có 8/10 số thí  sinh bị đánh hỏng, nhiều thí sinh phải thi lại rất nhiều lần trước khi được Ban giám khảo công nhận có đủ tư cách nhập học. Các sử gia cho rằng cảnh thí sinh đến từ rất nhiều nơi trê thế giới, chen chân ở cửa trường Đại học Nalanda là một cảnh rất ngoạn mục, nói lên danh tiếng tầm cỡ quốc tế của trường Đại học này. Trình độ học vấn là tiêu chuẩn duy nhất để nhập học, ngay ngài Phó Hiệu trưởng (Vice-Chancellor) cũng không có quyền quyết định. Quyền quyết định là thuộc Ban giám khảo.

Nhiều Tăng sĩ Trung Hoa đã đến thăm, nghiên cứu và giảng dạy tại trường Đại học này. Chính những hồi ký  của họ đã giúp nhiều cho việc khôi phục lại truyền thống quản lý, giảng dạy và nghiên cứu tại trường Đại học Nalanda. Theo cao tăng Nghĩa Tịnh thì tuổi tối thiểu để nhập học là 20. Hạn tuổi này cho thấy có thể có nhiều sinh viên đã tốt nghiệp ở các trường Đại học khác cũng đến tu nghiệp ở đây để bồi dưỡng kiến thức. Pháp sư Huyền Trang cho biết là có nhiều học giả đến từ đây từ nhiều thành phố khác ở Ấn Độ chỉ với mục đích hóa giải những mối nghi hoặc của mình. Thậm chí, họ đến trường Nalanda chỉ với dụng ý nêu ra các vấn đề tranh luận, mà vẫn được hoan nghênh và tiếp đón niềm nở. Không nên nhận thức Nalanda như một trung tâm học vấn tôn giáo chỉ dạy môn Phật học mà thôi. Ngược lại như đã nói trên, rất nhiều môn học không phải Phật giáo được dạy ở đây (kể cả y học, ngữ pháp học của Panini, phát âm học, ngữ nguyên học (etymology), các sách Vedas và Upanishas, Ấn Độ học và môn học về Yoga). Theo yêu cầu của vua Harsha, bốn nhà bác học của Nalanda được gởi tới Orissa để tham gia một cuộc tranh luận về giáo lý với ngoại đạo. Huyền Trang là một trong bốn nhà bác học được Ban điều hành học viện lựa chọn.

Đường Huyền Trang (Tam Tạng) trong phim Tây Du ký năm 1986

Huyền Trang đã ở lại học viện Nalanda đến 17 năm, đầu tiên như là sinh viên và sau đó như một giáo sư, được Ngài Hiệu trưởng Shilabhadra (Giới Hiền) trực tiếp hướng dẫn. Như đều đã biết, Huyền Trang vượt sa mạc Gobi vào Kashih mir ngang qua núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya).

Ông kể lại là khi đến Ấn  Độ, được đón tiếp niềm nở cho đến khi ông đến Nalanda. Sau khi trở về, ông viết cuốn  “Tây Du Ký” kể lại cuộc hành trình của ông. Ông được tiếp đón ở Nalanda với 1000 ngọn  đèn lồng. Có thể nói tiếng tăm của ông như một học giả đến Nalanda trước ông nữa. Ở đây, chỉ sau một thời gian tu học, ông được công nhận học vị Pháp sư và bổ nhiệm làm Hiệu phó trường Đại học Nalanda. Ngài Hiệu trưởng Shilabhadra trường Nalanda có danh hiệu “Pandita”, và khi Ngài Shilabhadra tiếp đón Huyền Trang tại Nalanda, thì đó có thể nói là cuộc gặp gỡ của hai nhà bác học tầm cỡ quốc tế, mặc dù trên danh nghĩa Shilabhadra là thầy và  Huyền Trang là trò.

Shilabhadra thường gởi Huyền Trang đi tham gia những cuộc tranh luận giáo lý khó khăn và nguy hiểm như ở Orissa và Kumarupa. Ở đâu, Huyền Trang cũng thanh công, được hoan nghênh, xứng đáng với niềm tin của Ngài Hiệu trưởng Shilabhadra.

Theo Huyền Trang, thời gian biểu một ngày ở Nalanda đại khái như sau:

Sáng sớm, theo tiếng gọi, tất cả sinh viên nội trú ở  Nalanda đều phải đi tắm. Việc đi tắm là  bắt buộc vào giờ quy định. Sau đó là nghi lễ  tắm tượng Phật, kèm theo cúng dường hoa, hương và  tụng kinh. Sau đó là một buổi hành Thiền. Hành thiền xong là bữa ăn sáng đạm bạc. Ăn sáng xong, sinh viên đi vào các phòng đọc khác nhau, cùng tham gia tranh luận về những chủ đề đã học.

Buổi chiều, có một nghi lễ khác gọi là “Caitya Vandana”, trong đó các tăng sĩ tập họp ở cổng trường chính và hát những bài Thánh ca cúng dường Phật Thích Ca.

Sau buổi lễ, nếu có việc thì họ có  thể  đi ra ngoài trường. Buổi tối dành cho nghỉ ngơi.

Sinh viên nhập học phải biết tiếng Sanskrit, mặc dù đức Phật Thích Ca thuyết pháp bằng tiếng Pàli. Kiến thức tiếng Sanskrit đòi hỏi sinh viên nắm vững ngữ pháp tiếng Sanskrit, văn chương Sanskrit cũng như lối phát âm tiếng Sanskrit đúng đắn. Theo Huyền Trang cho biết, thì  sinh viên nhập học cũng phải có kiến thức về  sách Veda, về triết học Vedanta, triết học Nyaya, triết học Vaisesika, Shankya, v.v… tức là những bộ môn triết học chính của Ấn Độ giáo. Pháp sư  Nghĩa Tịnh trong hồi ký hành trình của mình cũng nhất trí với những nhận xét của Huyền Trang đối với trường Đại học Nalanda.

Nghe thử bài hát Heart Sutra bằng tiếng Sanskrit xem sao, 

Buddhist Chant – Heart Sutra (Sanskrit) by Imee Ooi

Còn đây là tiếng Pali, ngày xưa Đức Phật thuyết pháp bằng ngôn ngữ này nè (^_^)

Buddha_Puja: Pali Reciting and English translation

(Học 1 thứ tiếng Anh đã chết lên chết xuống rồi, làm sao học nổi thêm 2 ngôn ngữ Pali và Sanskrit để đọc nguyên văn Kinh điển Đức Phật dạy bi giờ, híc :(   )

Phương pháp giảng dạy ở Nalanda là giáo sư giảng bài, kèm theo thảo luận xung quanh các câu hỏi của sinh viên. Nhiều cuộc thảo luận kéo dài cả ngày, và  cả ban đêm nữa. Đây là một dấu hiệu của nhiệt tình học tập của Nalanda, và bầu không khí dân chủ, thông thoáng tại trường Đại học này. Mặc dù  bầu không khí tranh luận và thảo luận rất tự  do và dân chủ, nhưng theo Huyền Trang, từ ngày thành lập cho đến khi Huyền Trang đến đây, đã trải qua hơn 700 năm, mà nề nếp kỷ luật vẫn được giữ vững, không có một cuộc bãi khóa hay lộn xộn nào. Pháp sư Nghĩa Tịnh cho biết là “mỗi ngày, trường bố trí có tới khoảng hơn một trăm bục giảng, dành cho thuyết trình và tranh luận”. Như vậy, đủ thấy bầu không khí giảng dạy và  học tập ở Nalanda không những là dân chủ, thông thoáng mà còn náo nhiệt, sôi nổi dường nào, thật là rất khác với các trường Phật học ở  ta, thầy giảng cứ giảng, sinh viên nghe cứ nghe, thầy trò như là hai thế giới khác nhau vậy. Hai nữa, chương trình học của một trường Đại học Phật giáo Nalanda thật là phong phú, đa dạng, bao gồm cả nhiều hệ triết học của Ấn Độ giáo như Nyaya, Vaisesika, Sankhya, Yoga và Vedanta. Chúng ta không lấy làm lạ rằng khi trở về Trung Hoa, Huyền trang có đem theo nhiều sách không phải là sách Phật, mà cả những sách Ấn Độ giáo nữa.

Ở Nalanda, sinh viên học hành và cư trú miễn phí. Ăn, mặc và mọi tiện nghi trong trường đều không phải trả tiền. Đó là nhờ sự cúng dường của 200 gia chủ, đến từ một trăm làng xa gần (theo tài liệu của cuốn “Cuộc đời của Huyền Trang” của tác giả Hwui Li, chuyển dẫn từ bài “Nalanda-The city of Knowledge” (Nalanda, đô thị của kiến thức) trong tạp chí Indian Perspectives số 4/2000).

Trong các trò giải trí cho sinh viên ở Nalanda, có  đấu vật, nhưng tuyệt đối cấm đánh bài, tuy là trong xã hội Ấn Độ bấy giờ, người ta đánh bài khá phổ biến.

Nalanda rơi vào tay quân Thổ Hồi giáo vào năm 1205 sau Công nguyên. Không khác gì Nero, tên hoàng đế La Mã khét tiếng tàn ác, tướng Madmut đã cười sung sướng khi Nalanda cháy. Những Tăng sĩ lạy van quân xâm lược đừng có đốt thư viện Nalanda, đều bị quăng vào lửa, bị thiêu sống cùng với sách vở. Nghe nói, thư viện Nalanda, có tên gọi Ratnabodhi cháy âm ỉ đến bảy tháng mới tàn lụi hẳn.

Thực là  một mất mát lớn cho kho kiến thức lớn cho nhân loại.
Phụ  lục:

Sự kiện triệt hạ trường Đại học Nalada được ghi lại bởi sử gia Hồi giáo Minhazad trong cuốn sách của ông mang đầu đề: Tavakata.

“Ở giữa thành phố có một ngôi đền to lớn hơn và vững chãi hơn những kiến trúc khác, khó mô tả hay vẽ lại được. Tướng Mahmut nói: Nếu có ai đó muốn xây dựng một ngôi đền như thế này thì phải tiêu tốn đến hàng trăm nghìn đồng Dinars đỏ (tiền cổ ở nước Hồi giáo như ở Iraq) và phải mất tới 200 năm mới có thể xây xong với những người thợ thành thạo và có kinh nghiệm nhất. Tướng Mahmut (chỉ huy đoàn quân Hồi) ra lệnh tiêu hủy tất cả mọi ngôi đền và kiến trúc khác bằng lửa và dầu và rồi san bằng tận mặt đất, rất nhiều cư dân trong thành phố bỏ trốn. Ai ở lại đều bị chém đầu. Tướng Mahmut tuyên bố: “Hoặc là theo đạo hồi hoặc là chết”.

Tất cả  cư dân ở đây đều bị giết. Có  nhiều sách được tìm thấy nhưng không ai đọc hiểu  được vì tất cả những người đọc đều bỏ  trốn hay bị giết.

“Nếu họ theo đạo của chúng ta thì tốt, nếu không thì họ bị chém đầu. Thế rồi đạo quân Hồi bắt đầu tản ra chém giết bên tả, bên hữu không thương tiếc, khắp nơi trên đất nước nhơ bẩn này (người Hồi giáo gọi những quốc gia không theo đạo Hồi là đất nước nhơ bẩn. M.C chú). Vì vinh quang của Islam mà máu người chảy thành sông thành suối. Chúng ta bắt được vàng bạc không kể xiết và vô số đá quý chói sáng rực rỡ. Chúng ta cũng bắt được một số lớn cô gái đẹp và lịch sự, tất cả có đến hai vạn người, kể cả những em bé trai và gái”.

Có nơi tướng Mahmut tấn công bất ngờ bắt được 12.000 tù binh. “Tất cả đều bị chém do lệnh của Mahmut. Chúng tôi bắt được chiến lợi phẩm nhiều vô kể. Cảm tạ Thượng Đế vì chiến thắng này của Islam, khi trở về tướng Mahmut tuyên bố  cho tất cả dân chúng đều biết về chiến thắng của Islam. Mọi người già cũng như trẻ đều vui vẻ và cảm tạ Thượng Đế” (chuyển dịch từ cuốn “Thai Buddhism in the Buddhist word”-“Phật giáo Thái trong thế giới Phật giáo”, trang 47.Anh ngữ).

Tất nhiên, nhiều học giả Hồi hiện nay giải thích rằng, cuộc tàn sát Tăng ni Phật tử ở Nalanda là lỗi của tướng Mahmut, và trái ngược với tinh thần của Hồi giáo, và họ đã dẫn chứng các đoạn kinh Coran như sau:

“Không được áp đặt trong tân giáo” (Phẩm 2. Câu 256)

“Các ngươi hãy tự bảo vệ chống lại kẻ thù, nhưng các ngươi không được là kẻ tấn công đầu tiên, vì Thượng Đế Allah không yêu thương những kẻ tấn công” (Phẩm 2. Câu 190).

“Anh theo tôn giáo của anh, tôi theo tôn giáo của tôi” (Phẩm 109. Câu 6).

Các học giả Hồi giáo khẳng định rằng đoàn quân Thổ  của tướng Mahmut đã hành động để chiếm đất và  cướp tài sản, chứ không phải vì vinh quang của  đạo Hồi.

Nhưng vì  cũng có nhân có quả. Vào thế kỷ XIII, quân Nguyên Mông, do Thành Cát Tư Hãn chỉ huy, tấn công đế quốc Hồi giáo từ phía Đông Bắc. Trong cuộc giáp chiến đầu tiên với quân Hồi trước cổng thành Bokkhara, 400.000 quân Hồi bị đánh bại. Thành Bokkhara bị chiếm, 30.000 thường dân bị giết. Khi Bagdad, thủ đô của đế quốc hồi bị  chiếm, 800.000 thường dân bị chém đầu! (Trích cuốn “Jews, God and history”-“Người Do Thái, Thượng Đế và lịch sử” của Max Dimont. Anh ngữ, trang 193).

Minh Chi

THE BIGGEST CRIME OF ISLAM (TỘI ÁC LỚN NHẤT CỦA QUÂN HỒI GIÁO)

Tư  liệu tham khảo chủ yếu:

Tạp chí Anh ngữ: Nadia perspectives – bài: Nalanda, the City of Knowledge. (soos4/2001 – Nalanda, thành phố của kiến thức).
“The Jews, God and history” (Dân tộc Do Thái, Thượng Đế và Lịch sử). Tác giả: Max Dumont.
“Thai Buddhism in the Buddhist word”-(Phật giáo Thái trong thế giới Phật giáo)

Trích Kinh Chiến thắng và Chiến bại (Kinh Sangama Sutta)

“Chiến tranh gây hận thù,
Kẻ bại trận rơi vào cảnh khốn cùng.
Ai muốn tìm lấy sự yên tịnh,
Từ bỏ mọi ý nghĩ về chiến tranh hay bại trận,
Sẽ tìm thấy an lạc cho chính mình.”
“Một người làm tan tành sự nghiệp của người khác cho đến một lúc hành động (nghiệp) của mình sẽ làm tan tành sự nghiệp của chính mình. Tuy thế, khi sự nghiệp của mình đã bị người khác làm cho tan tành, và dù cho sự nghiệp đã tan tành, thì mình vẫn làm cho người khác tan tành sự nghiệp.  Đến một lúc nào đó thì hành động (nghiệp) của mình sẽ chín muồi, [nhưng] kẻ ngu đần lại cứ tưởng rằng: “Đây là thời cơ của mình đã đến.” 
Tuy nhiên khi hành động (nghiệp) của mình đến lúc đã chín muồi thì kẻ ngu đần ấy không sao thoát khỏi khổ đau. Người sát nhân sẽ tìm thấy kẻ giết mình trong tương lai, người chiến thắng sẽ tìm thấy người đánh bại mình trong tương lai, kẻ xúc phạm người khác sẽ tìm thấy người xúc phạm lại mình trong tương lai, kẻ gian ác sẽ tìm thấy người gian ác với mình trong tương lai, thế đó, tùy theo sự chín muồi của hành động đã thực thi, và dù cho sự nghiệp đã tan tành, nhưng hắn (kẻ ngu đần) vẫn làm cho tan tành sự nghiệp của người khác.”
(Tương Ưng bộ kinh, I, 82-85)
Trong Kinh Sangama Đức Phật đã dạy như sau: “Nếu ai biết tìm lấy sự yên tịnh, đừng nghĩ đến mình là kẻ chiến thắng hay chiến bại,thì người ấy sẽ tìm thấy sự an lạc.
Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, chiến tranh mang tính cách trực tiếp và đơn giản hơn ngày nay rất nhiều, và chiến thắng hay chiến bại do đó cũng minh bạch hơn.
Ngày nay xã hội con người trở nên phức tạp hơn, chiến tranh cũng theo đó mà đa dạng hơn, mang nhiều sắc thái và khía cạnh khác nhau, từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa cho đến nhân phẩm và cả sự tự trọng của một dân tộc. Vì thế mà chiến thắng trên một khía cạnh nào đó cũng không có nghĩa là chiến thắng được tất cả.
Câu chuyện chiến tranh trên đây cho thấy cùng một mặt trận Kasi nhưng lúc thì vua này thắng, lúc thì vua kia thắng, vì thế không một chiến thắng nào muôn đời, cũng không một chiến bại nào mãi mãi.  Cái chiến thắng vững bền hơn hết là chiến thắng chính mình trước những khích động của bản năng và tham vọng.  Khi nào ta vẫn còn quan tâm đến chiến thắng và chiến bại thì khi đó ta vẫn còn nô lệ cho những xúc cảm bấn loạn trong lòng.
Lấy hận thù diệt hận thù
Hận thù không mất nghìn thu vẫn còn
Lấy oán thù đáp oán thù,
Oán thù không dứt niềm từ lại tiêu.

Lấy tình thương xóa hận thù,

Hận thù bay mất niềm từ lại sinh.

Lấy oán thù đáp oán thù,

Oán thù không dứt niềm từ lại tiêu.

Lấy tình thương gọi tình thương,

Sóng lên một dợn thủy triều liền dâng.

 

Bồ Tát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

Bồ Tát (菩薩) là lối viết tắt của Bồ-đề-tát-đóa (zh. 菩提薩埵, sa. bodhisattva), cách phiên âm tiếng Phạn bodhisattva sang Hán-Việt, dịch ý là Giác hữu tình (zh. 覺有情), hoặc Đại sĩ (zh. 大士). Trong Phật giáo Đại thừa, Bồ Tát là một hành giả sau khi hành trì các Ba-la-mật-đa đã tựu Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết-bàn khi chúng sinh chưa giác ngộ.

Yếu tố cơ bản của Bồ Tát là lòng Từ bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng luyện tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh nguyện. Hành trình tu học của Bồ Tát theo kinh Hoa Nghiêm thì có 52 quả vị gồm Thập Tính, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập địa và hai quả vị cuối cùng là Đẳng giác và Diệu giác.

Khác biệt giữa Đại thừa và Tiểu thừa

Hình ảnh Bồ Tát của Đại thừa tương tự như A-la-hán của Tiểu thừa, trong đó A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình.

Trong nhiều kinh Nikaya, A-la-hán là một bậc Thánh hoàn hảo, đầy lòng từ bi thương yêu chúng sinh nhưng dấu kín trong phong cách trầm mặc hiền lành. Sau này, những luận bả của Đại thừa cho A-la-hán là khô khan, thụ động, hễ nhập Niết bàn là xong hết chuyện.

Thật sự thì khái niệm Bồ tát đã được tìm thấy trong các kinh Tiểu thừa, nhất là khi nói về các tiền thân đức Phật Thích-ca (Bản sinh kinh). Trong Đại thừa, khi nói đến Bồ Tát, người ta xem đó là tiền thân của các vị Phật tương lai. Đại thừa chia làm hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát đang sống trên Trái Đất và Bồ Tát siêu việt. Các vị đang sống trên Trái Đất là những người đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả. Các vị Bồ Tát siêu việt là người đã đạt các hạnh Ba-la-mật và Phật quả – nhưng chưa nhập Niết-bàn. Đó là các vị đã đạt Nhất thiết trí, không còn ở trong Luân hồi, xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để cứu độ chúng sinh. Đó là các vị được Phật tử tôn thờ và đảnh lễ, quan trọng nhất là các vị Bồ Tát Quán Thế Âm (zh. 觀世音), Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利), Địa Tạng (zh. 地藏), Đại Thế Chí (zh. 大勢至) và Phổ Hiền (zh. 普賢).

Những người có tấm lòng bao la

Thật ra trong đạo Phật, người ta hiểu từ Bồ Tát với nghĩa khá rộng, không hẳn chỉ là những vị Bồ Tát thần thông quảng đại ẩn hiện khắp nơi trên cõi cao vời, mà còn là những người có tấm lòng độ lượng nhân ái, sống giữa cuộc đời thực tế này. Chính vì ý nghĩa rộng lớn của Bồ Tát như vậy nên hình ảnh của đạo Phật gần gũi, đẹp đẽ và sống động.

Một người được gọi là Bồ Tát là người thương yêu mọi người xung quanh mình, sẵn lòng giúp đỡ khi có thể, dường như chẳng thấy giận ghét ai. Những tâm hạnh như thế rất phù hợp với tiêu chuẩn của một vị chứng Thánh quả Tu đà hoàn trở lên.

Danh sách một số vị Bồ Tát

  • Hư Không Tạng (zh. 虛空藏, sa. ākāśagarbha, ja. kokūzō)
  • Quán Thế Âm (zh. 觀世音, sa. avalokiteśvara, ja. kanzeon, bo. spyan ras gzigs སྤྱན་རས་གཟིགས་)
  • Địa Tạng (zh. 地藏, sa. kṣitigarbha, ja. jizō, sa yi snying po ས་ཡི་སྙིང་པོ་)
  • Đại Thế Chí (zh. 大勢至, sa. mahasthāmaprāpta, ja. daiseishi)
  • Di-lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, ja. miroku, bo. byams pa བྱམས་པ་)
  • Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī, ja. monju, bo. `jam pa`i dbyangs འཇམ་པའི་དབྱངས་)
  • Phổ Hiền (zh. 普賢, sa. samantabhadra, ja. fugen, bo. kun tu bzang po ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་)
  • Kim Cương Thủ (zh. 金剛手, sa. vajrapāṇi, ja. kongōshu, bo. phyag na

Trích Giác Ngộ Online:

Lý tưởng khác với chủ nghĩa giáo điều ở chỗ nó không đóng khung cứng nhắc. Lý tưởng thúc đẩy và khuyến khích sự tự do quyết định của cá nhân, và do đó, khác với chủ nghĩa giáo điều, nó không cần sự biện hộ của tư liệu lịch sử hay lý luận. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẻ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại.

Lý tưởng Bồ tát đạo cũng thế. Nó đã có ảnh hưởng lớn trên đời sống, tư tưởng và hành động của người Phật tử trong suốt hơn hai ngàn năm nay, mà không cần sự biện minh của triết học kinh viện, chủ thuyết giáo điều hay các dữ kiện lịch sử tôn giáo. Lý do chính là vì nó là sự thể hiện thường trực của một nội tâm có sức mạnh chuyển hóa và kêu gọi con người thực hiện mục tiêu cao cả mà Đức Phật đã soi sáng cho chúng ta bằng chính tấm gương cuộc đời Ngài.

Lý tưởng Bồ tát đạo là một danh từ chung cho những ai có tâm xã kỷ vị tha (quên mình vì người). Đây là quan điểm Đại thừa. Đại thừa Bồ tát đạo đã nở hoa tỏa ngát hương, ngược gió tung bay khắp muôn phương trong suốt hơn 20 thế kỷ và tiếp tục là ngọn lửa thiêng, là ánh sáng Từ bi Trí tuệ, ngọn đuốc soi đường cho bao thế hệ Phật tử hôm nay và ngày mai dấn thân vào con đường phục vụ xã hội, nhân sinh (Phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật).

Việt Nam lịch sử thời Lý, Trần tôn Phật giáo làm Quốc đạo, dùng chủ nghĩa Từ bi hiện thực, lý tưởng Bồ tát đạo làm kim chỉ nam và quốc sách an dân kiện toàn trong mọi lĩnh vực. Một thời vàng son độc lập tự chủ, văn minh vẻ vang nhất của lịch sử dân tộc Đại Việt ngược dòng lịch sử hàng nghìn năm văn hiến. . .

Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của danh từ Bồ tát.

BỒ TÁT: 菩薩 Bodhisattva : Âm tiếng Phạn là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch là Giác hữu tình, có bổn phận khiến cho hữu tình chúng sanh đạt đến giác ngộ.

Trên phương diện từ nguyên, Bồ Tát –Bodhisattva, tiếng Phạn  – là một danh từ ghép bao gồm hai từ Bodhi và Sattva. Bodhi, phiên âm Hán ngữ là Bồ Đề.

 BỒ ĐỀ: 菩提 Bodhi : Bản thể tự tâm đầy khắp thời gian không gian, tất cả đều thuộc về chính mình, ngoài tâm chẳng có pháp để đắc, nên giác ngộ cái Tâm vô sở đắc, tức là Bồ đề.

Bồ đề vì thế cũng còn được dịch là ‘Giác Ngộ’, cũng gọi là Chánh Biến Tri.

Theo truyền thống Đại thừa, xem vị Bồ tát như là người có Bồ đề tâm. Thế nên con đường trở thành Bồ tát chỉ thực sự khi một người phát Bồ đề tâm, mang ánh sáng Từ bi Trí tuệ của Phật pháp tỏa khắp muôn phương để giúp chúng sinh vượt thoát mọi ràng buộc của khổ đau. Như thế, muốn tìm hiểu về Bồ tát đạo ta không thể không biết qua khái niệm thế nào là Bồ đề tâm. Dùng một hình ảnh cụ thể thì việc phát sinh của Bồ đề tâm cũng giống như một dòng suối tươi mát ngọt ngào xuất hiện giữa một sa mạc khô cằn, cỏ cháy. Cái sa mạc khô cháy đó chính là vương quốc của  cái Ngã “cái TÔI ích kỷ” của chúng ta đang ngự trị, nơi mà mọi thứ đều được xếp đặt lớp lang đâu đó, cũng như được kiểm soát chặt chẽ. Trong một môi trường như vậy, thật khó mà loại cây nào có thể mọc lên, bởi vì cái Ngã tự nó là một hòn bọt nước tung tăng trong bể cả mênh mông của đại dương, hay như bải cát khô vùng sa mạc hoang dã, một mảnh đất chết. May mắn thay, đạo Phật đến với ta, cho ta những phương tiện thiện xảo để có thể đào sâu vào lòng sa mạc khô chết này, từ đó ngọn suối nhiệm mầu của Bồ đề tâm xuất hiện dẫn ta đến cả một bể Trí tuệ viên mãn vô tận nằm sâu trong lòng đất.

Kinh Hoa Nghiêm:

 Chư Phật-tử ! Ðại Bồ-tát có mười nhơn-duyên phát Bồ đề tâm:

Vì giáo-hóa điều-phục tất cả chúng-sanh mà phát Bồ đề tâm.

Vì trừ diệt tất cả khổ cho chúng-sanh mà phát Bồ đề tâm.

Vì ban cho tất cả chúng-sanh đầy đủ sự an-lạc mà phát Bồ đề tâm.

Vì dứt sự ngu-si của tất cả chúng-sanh mà phát Bồ đề tâm .

Vì ban phật-trí cho tất cả chúng-sanh mà phát Bồ đề tâm.

Vì cung-kíng cúng-dường tất cả chư Phật mà Bồ đề tâm.

Vì thuận theo phật-giáo cho chư Phật hoan-hỉ mà Bồ đề tâm.

Vì thấy sắc thân tướng hảo của tất cả Phật mà phát Bồ đề tâm.

Vì nhập trí-huệ quảng-đại của tất cả Phật mà phát Bồ đề tâm.

Vì hiển hiện lực vô-úy của tất cả Phật mà phát  Bồ Đề Tâm.

 Bồ tát phát Bồ đề tâm như thế nào ?

«Lại nữa, Bồ tát phát Bồ đề tâm, lấy Từ bi làm đầu. Tâm đại Từ bi của Bồ tát vô lượng vô biên, cho nên khi phát tâm không có ngằn mé, rộng khắp chúng sanh giới. Ví như hư không trùm khắp tất cả, Bồ tát phát tâm cũng lại như vậy; tất cả chúng sanh, khắp cùng tất cả, như chúng sanh giới vô lượng vô biên bất khả cùng tận, Bồ tát phát tâm cũng lại như vậy. Nghĩa là cũng vô lượng vô biên không có cùng tận, hư không vô tận, cho nên chúng sanh cũng vô tận, chúng sanh cũng vô tận cho nên Bồ tát phát tâm khắp tất cả chúng sanh giới vậy. Nghĩa chúng sanh giới, tức là không có hạn lượng.

Vậy Bồ đề tâm là gì ?

Bồ đề tâm là tâm hoàn toàn giác ngộ.  Nói giác ngộ, chính là giác ngộ cái tánh chân thật, vốn thanh tịnh, sáng suốt, không phiền não của chính bản thân mình.  Phát Bồ đề tâm là sự lập chí nguyện một cách quyết liệt để giác ngộ lại bản tánh chân thật đó vì lợi ích sâu rộng cho tất cả chúng sinh. Phát Bồ đề tâm bao hàm hai tính chất mà thành ngữ Phật học thường hay nói là “Thượng Cầu Phật Đạo, Hạ Hóa Chúng Sinh”, tức là phát thệ nguyện cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh.

Nói một cách khác, Bồ Đề Tâm gồm có hai giai đoạn:  giai đoạn thứ nhất là phát nguyện Bồ Đề Tâm, tức là phát nguyện thành Phật vì lợi ích chúng sinh; giai đoạn thứ hai là nỗ lực thực hành Bồ Đề Tâm Hạnh, nghĩa là mỗi lời nói, mỗi hành động và mỗi ý niệm đều phải hướng về chúng sinh, vì mục tiêu dẫn dắt chúng sinh trên con đường giác ngộ, đồng thời cũng vì an nguy của chúng sinh, để mà giữ giới (không làm điều ác), tích cực cứu giúp chúng sinh (chuyên làm điều lành) và tự thanh lọc tâm ý, để từng bước tiến dần đến Pháp Thân Phật.   Làm lành và tránh ác là những việc làm vô cùng quý báu và đáng ca ngợi hết sức, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là điều tự thanh lọc tâm ý, tức là chuyển hóa tâm thức một cách toàn triệt, vì lợi ích cho tất cả chúng sinh, (từ noãn sinh, thai sinh, thấp sinh cho đến hoá sinh)….(from Giác Ngộ Online)

BỒ TÁT
Nghiên Cứu Phật Học

Phật Học Căn Bản

Viết bởi Thích Chơn Thiện

I. Tổng quan- Trong bài nầy, người viết chỉ ghi lại một số điểm theo ký ức hạn chế trong các dịp nghiên cứu, học hỏi về Bồ-tát và Bồ-tát thừa từ giáo lý Nam tạng và Bắc tạng. Người viết sẽ có bài biên khảo đầy đủ hơn trong một dịp khác.- Theo tài liệu nghiên cứu về Bồ-tát và Đại thừa Phật giáo của Thượng tọa Tiến sĩ walpola Rahula, một nhà Phật học nổi tiếng Tích Lan, trong một bài thuyết giảng của Thượng tọa tại Malaysia năm 1955, từ ngữ Đại thừa ( Mahàyàna ) và Tiểu thừa ( Hìnayàna ) Phật giáo chỉ tìm thấy ở Kinh Pháp Hoa, mà không có ở các tài liệu Phật học trước đó, bao gồm cả các Biên niên ký. Kinh Pháp Hoa xuất hiện sớm nhất là vào thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch ( I.B.C ). Bồ-tát thừa có mặt từ đó, và lý tưởng Bồ-tát được hình thành từ đó ( Bodhisattva ‘s Ideal ).

- Tư tưởng Phật giáo Đại thừa được bàn đến sớm nhất cũng từ thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch; phát triển mạnh dưới thời đại Luận sư Long Thọ ( Nagarjuna ), thế kỷ thứ hai Tây lịch và phát triển mạnh nhất từ thế kỷ thứ tư Tây lịch, dưới thời của hai đại Luận sư Vô Trước ( Asanga ) và Thế Thân ( Vasubandhu );- Thực sự, danh từ Bồ-tát ( Bodhisattà ) và các hạnh Bồ-tát Thập độ và Lục độ ba-la-mật đã được đề cập đến trong Nikàya của Thượng tọa bộ ( Theravada ) được kiết tập từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, dưới triều đại đế Asoka, đặc biệt trong các câu chuyện Tiền thân ( Jàtaka ) thuộc Tiểu Bộ kinh ( Khuddaka Nikàya ). Tư tưởng Đại thừa cũng có gốc từ 5 Nikàya, chỉ phát triển sâu rộng về sau thành các Kinh, các luận, mà vốn cái tinh thần triển khai là tinh thần giảng rộng có từ Kinh tạng : các đại đệ tử giảng rộng các lời dạy vắn tắt của Thế Tôn, như tôn giả Xá Lợi Phất ( Sàriputta ), tôn giả Ca Chiên Diên ( Kaccàna ) …

- Từ ngữ Bồ-tát, tiếng Sanskrit viết là Bodhisattvà, Pàli viết là Bodhisattà : Bodhi có nghĩa là giác, giác trí, giác ngộ; sattà là biến cách thứ nhất ( chủ cách ) của từ sattu, là một hữu tình, một chúng sinh ( being ). Hán ngữ gọi Bồ-tát là Giác hữu tình ( một hữu tình có giác trí ).

  • Từ các chuyện Jàtaka, tiền thân của Thế Tôn thường được đề cập là Bồ-tát đang thực hành các ba-la-mật, nói rõ là Thập ba-la-mật ( Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí tuệ, Phương tiện thiện xảo, Nguyện, lực và trí ) hay Lục độ ba-la-mật ( bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ ) để cầu Nhất thiết trí ( Phật quả ), nhưng không giới thiệu cụ thể phát hành thành hệ thống giáo lý cho hàng Bồ-tát. Mãi đến thời kỳ Phật giáo phát triển ( hay Đại thừav) thì giáo nghĩa, giáo hạnh, giáo giới về Bồ-tát mới được hệ thống thành một thừa gíáo và phổ biến rộng rãi : Bồ-tát giới, Bồ-tát tâm, Bồ-tát nguyện, Bồ-tát hạnh, Bồ-tát địa…- Kinh Đại Bổn, Trường Bộ ( Dighà Nikàya ), Kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp (Majjhima Nikàya, Vol. III ), Kinh Tập ( Suttanipàta, Khuddka – Nikàya ) ghi rằng : Đức Thích Tôn là vị Bồ-Tát ở cung Đâu Xuất ( Tusita, cõi trời thứ tư của Dục giới thiên ) Đản sinh lúc vừa chấm dứt tuổi tho ở đó : đây là đời sống cuối cùng thành Phật. Như thế, theo giáo nghĩa Bồ-tát của Đại thừa, từ cung Đâu Suất Bồ-tát đã viên mãn quả vị Thập địa Bồ-tát : Pháp Vân địa.- Hạnh nguyện chính của một vị Bồ-tát, theo Nguyên Thủy ( Theravada ) và Đại thừa ( Phát triển ) là ” thượng cầu, hạ hoá “: trên thì cầu Phật trí, dưới thì hoá độ, dẫn dắt chúng sinh đến Phật trí. Bồ-tát hành tự độ và độ tha song song. Theo Đại thừa, tiêu biểu là kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm, Bồ-tát có ba sức mạnh đặc thù : trí tuệ là linh hồn, thiền định là sức mạnh, và tâm đại bi là sắc thái hạnh nguyện nổi bật trên đường độ sinh.- Từ ý nghĩa ” thượng cầu Phật quả “, về sau một hành giả phát khởi ” bồ đề tâm ” cầu giác ngộ thường được hiểu một cách rộng rãi là ” bồ tát sơ phát tâm “. Ý nghĩa Bồ-tát rộng rãi nầy được trình bày trong 54 quả vị trước khi thành Phật Chánh Đẳng Giác của Hoa Nghiêm ( với Pháp Hoa tông thì có 52 quả vị ) là : Thập Tín, Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng, Thập Gia hạnh, và Thập địa.II. Hoa Nghiêm Kinh và Thập địa Bồ-tát- Từ giáo lý Lục độ hay Thập độ ba-la-mật của Bồ-tát, pháp hành cơ bản của một Bồ-tát hiện rõ : Giới, Định, Tuệ và tâm Đại bi độ sinh ( cụ thể qua Tứ nhiếp pháp và Tứ vô lượng tâm ) được hành viên mãn đến Niết bàn Vô thủ trước đầy đủ Nhất thiết trí.

    - Kinh Hoa Nghiêm giới thiệu Bồ-tát hành Tứ nhiếp pháp trải qua 44 quả vị trước khi đi vào Thập địa ( Dasa – bhùmi ), đó là :

    * Thập tín : hành giả hành Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Bố thínhiếp.

    * Thập Hạnh : hành giả hành Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Áingữ nhiếp.

    * Thập Trụ : hành giả hành Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Lợihành nhiếp.

    * Thập Hồi Hướng : hành giả tiếp tục công phu Giới, Định, Tuệ kết hợp với công hạnh hành Đồng sự nhiếp.

    Tiếp theo, hành giả phát khởi và an trú vào giác tỉnh vô ngã ( trí tuệ vô ngã ) qua bốn quả vị lần lượt là Noãn, Nhẫn, Đảnh, và Thế đệ nhất. Tại Thế đệ nhất vị, hành giả thành tựu công phu vững trú ở trí tuệ vô ngã, và đi vào hành Thập địa Bồ-tát đạo.

    - Thập địa Bồ-tát :

    1. Hoan Hỷ địa ( Pramudità ):

    Tại đây, Bồ-tát an trú vững chắc vào trí tuệ vô ngã, tâm sanh hoan hỷ, chứng đắc sự thật Ngã Không và Pháp Không. Bồ-tát khởi sự đạt được Thánh tánh ( vào dòng Thánh )

    2. Ly Cấu địa ( Vimalà )

    Tại nhị địa, Bồ-tát hành viên mãn Giới đức.

    3. Phát Quang địa ( Prabhà – Karì )

    Tại tam địa, Bồ-tát hành viên mãn hạnh Nhẫn nhục , đi sâu vào nội quán, thoát khỏi ràng buộc của đường tu ( tu đạo : bhàvanà màrga )

    4. Diệm Huệ địa ( Arcismatì )

    Tại tứ địa, Bồ-tát hành viên mãn hạnh Tinh Tấn , phát triể mạnh năng lực thiền quán.

    5. Nan Thắng địa ( Sudurjiayà )

    Tại ngũ địa, Bồ-tát hành viên mãn Công phu Thiền định , đầy đủ nhân duyên để an trú vào Tánh Không tại thế gian.

    6. Hiện Tiền địa ( Abhimukhì )

    Tại lục địa, Bồ-tát phát triển viên mãn tuệ vô ngã ( Prajnà ), thấy như thật tánh thanh tịnh của vạn hữu ( bình đẳng ứng xử với tịnh và bất tịnh )

    7. Viễn hành địa ( Dùramgama )

    Tại thất địa, Bồ-tát đoạn tận tập khí chấp Ngã, phát triển tâm đại bi cứu độ chúng sinh.

    8. Bất động địa ( Acalà )

    Tại bát địa, Bồ-tát đoạn tận tập khí chấp Ngã và chấp Pháp, an trú vào vô tướng mà tự tại du hành độ sinh.

    9. Thiện Huệ địa ( Sàdhumatì )

    Tại cữu địa, Bồ-tát thành tựu Thập lực Bồ-tát, ( Dasabalà ), có khả năng thuyết pháp độ sinh rộng rãi.

    10. Pháp Vân địa ( Dharmameghà )

    Tại thập địa, Bồ-tát có thể thuyết pháp chỉ đường cho mọi căn cơ, như đám mây lớn cho mưa cho các loài cây lớn, cây nhỏ.

    - Bồ-tát Thập địa, theo Kinh Hoa Nghiêm, hành kết hợp đủ Tứ nhiếp pháp : Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành và Đồng sự.

    - Từ Bát địa, Bất Động địa, Bồ-tát được tôn xưng là Đại Bồ-tát ( Mahàbodhisattvà )

    III. Thập địa Bồ-tát và Tứ quả Sa môn ( Nikàya )

    1. Hữu Học vị và Thập địa

    1.1. Thánh Tu-đà-hoàn ( Sotapatti ) : Tu-đà-hoàn trừ xong Thân kiến ( Sakkàyaditthi ), nghi, và giới cấm thủ, nên về mặt tâm và tuệ giải thoát, thì tương đương với Hoan Hỷ địa và Ly cấu địa.

    1.2. Thánh Tư-đà-hàm ( Sakadagamì ): làm yếu đi Dục và Sân, Thánh A-na hàm ( Anàgamì ) thì đoạn tận Dục và Sân, nên về mặt tâm và tuệ giải thoát, có thể xem tương đương với Nan Thắng địa ( ngũ địa ) có khả năng an trú vào Tánh Không.

    2. Thánh Vô Học A-la-hán ( Arahat ) và Thập địa

    Thánh A-la-hán đã đoạn tận 10 kiết sử : Thân Kiến, Nghi, Giới cấm thủ, Dục , Sân, Hữu ái, Vô hữu ái, Mạn, Trào cử và Vô minh. Vềà mặt tâm và tuệ giải thoát, có thể xem là đã trừ sạch chấp thủ Ngã, Pháp, tương đương với Đại Bồ-tát Bất Động địa ( Acalà )

    Theo Nikàya, các A-la-hán vẫn có sự cao, thấp về tuệ giải thoát, về tâm giải thoát ( thiền định và các thần thông ) nên mới có các vị đệ nhất về trí tuệ, đệ nhất thần thông, đệ nhất thiền định v.v… có các A-la-hán và Đại A-la-hán. Đức Thế Tôn cũng là một A-la-hán, nhưng là A-la-hán tối thượng gọi là A-la-hán Chánh Đẳng Giác ( Arahat – Sammasambuđha ). Như thế, sự khác biệ giữa các Đại A-la-hán và các Đại Bồ-tát chỉ là sự khác biệt về sứ mệnh, vai trò và danh xưng, trên thực tế giải thoát, các Đại A-la-hán có khả năng của một Đại Bồ-tát Cửu địa và Thập địa và an trú Lục độ Ba-la-mật.

    IV. Pháp Hoa Kinh và Bồ-tát-thừa ( Bodhisattvà – yàra )

    - Kinh Pháp Hoa phân biệt có năm thừa giáo dành cho năm làng căn cơ : Nhân, Thiên, Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát. Đặc biệt, Kinh chủ trương ” Hội tam quy nhất “, thống nhất ba thừa Thinh Văn, Duyên giác và Bồ-tát thừa vào nhất thừa giáo gọi là Phật thừa ( Buđha – Yàna ), xác định mục tiêu giải thoát tối hậu chỉ có một là Phật tri kiến. Do vì căn cơ của các hành giả khác nhau về trí tuệ, ý chí, thiên hướng, nguyện vọng, nên Thế Tôn phương tiện triển khai pháp ra năm thừa hay ba thừa. Điểm khác biệt của Pháp ( Phật Pháp ) là nằm ở căn cơ, khả năng của người đón nhận, mà không nằm ở Pháp, ở đích đến giải thoát của Pháp.

    - Phẩm Thí dụ ” ngôi nhà lửa ” tam giới đang bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa sanh, già,bệnh, chết, ưu, bi, khổ não, Đức Phật bèn phương tiện nói Pháp có ba thừa để kíp cứu chúng sinh ra khỏi nhà lửa. Khi hành giả ra khỏi khổ đau của hữu vi ( sinh tử luân hồi ) thì Đức Phật dạy chỉ có một Bồ-tát thừa ( dụ cho xe Trâu ) dẫn đến Phật quả. Như thế các vị Thánh A-la-hán, Bích Chi sau khi đoạn tận Ái, Thủ, đoạn tận được các nhân của sinh tử, mới chỉ đắc được Giải thoát thân ( Vimukti – Kàya ) mà chưa đắc được Pháp thân ( Dharma-Kàya ), còn cần hành đại bi tâm, độ khổ vô lượng chúng sanh mới có thể thành tựu Nhất thiết trí ( Phật trí ).

    Sự khác biệt về khả năng thể nhập Pháp thân ( Dharma Kàya ) của ba bậc Thánh A la-hán, Bích Chi và Bồ-tát ( Đại Bồ-tát ) có thể được hiểu qua sự hình dung ba hình ảnh ở ví dụ sau :

    * Ba người cùng mắc một món nợ lớn ( nợ sinh tử ); cả ba đều nỗ lực làm việc sinh lợi sau một thời gian dài để xóa nợ. Bấy giờ, một vị sau khi trả nợ xong, của cải tự thân không còn có bao nhiêu; vị thứ hai, sau khi trả nợ xong, tiền của còn lại khá nhiều có thể giúp đỡ nhiều người khác; vị thứ ba, sau khi trả nợ xong, của cải còn lại vô số có thể cứu giúp vô số người khác.

    Cũng thế, cả ba bậc Thánh A-la-hán, Bích Chi và Đại Bồ-tát sau khi thoát ly sinh tử, được ” giải thoát thân “, thì khả năng độ sinh để đắc Pháp thân có sự khác biệt. Ở đây, cái nhìn phân biệt các pháp của các bậc Thánh có mặt, nhưng cái tâm chấp thủ thì không.

    Bồ – tát thừa ở Kinh Pháp Hoa có ý nghĩa như thế, và thế giới các bậc Thánh của Kinh Pháp Hoa được xếp từ thấp lên cao như sau :

    Thinh văn —> Duyên Giác —> Bồ-tát —> Phật Chánh Đẳng Giác

    - Các Kinh Nikàya không trực tiếp giới thiệu Bồ-tát thừa, nhưng cũng đã hé mở cho thấy rằng các A-la-hán sau khi đoạn diệt Ái, Thủ, Vô minh thì các khả năng về trí tuệ, thiền định, thuyết pháp độ sanh vẫn biểu hiện ở các cấp độ khác nhau qua lời tuyên bố của Thế Tôn về các vị A-la-hán đệ nhất trí tuệ, thiền định, thần thông v.v… và vẫn chưa vào Phật trí như Thế Tôn. Thế có nghĩa là các bậc Thánh A-la- hán đã giải thoát khỏi khổ sinh tử vẫn còn có việc phải làm để thể nhập Pháp thân ( Dharmakàya). Đây là điểm từ đó thành lập Bồ-tát thừa về sau.

    V. Vị trí Bồ-tát ở các kinh Đại thừa

    - Các Kinh Đại thừa luôn giới thiệu thính chúng gồm có ba đối tượng :

    * Chúng Thinh văn gọi là ” chúng đương cơ “, đối tượng chính của các thời Pháp.

    * Chúng Bồ-tát : gọi là ” chúng hộ trì “, nghe Pháp để hộ trì, khích lệ chúng Thinh văn.

    * Chúng Nhân, Thiện và Bát bộ phi nhân : gọi là ” chúng Kết duyên “, nghe Pháp để kết duyên, mà chưa đủ duyên để hành trì.

    - Kinh Pháp Hoa diễn đạt một Bồ-tát là pháp sư diễn nói Diệu Pháp cần hội đủ ba đức :

    * ” Nhập Như Lai thất ” ( ở ngôi nhà đại từ bi của Như Lai )

    * ” Trước như Lai y ” ( Mặc áo nhu hòa, nhẫn nhục của Như Lai )

    * ” Tọa Như Lai tòa ” ( ngồi chỗ ngồi an trú vào Tánh Không của Nhứt thiết pháp của Như Lai )

    - Kinh Hoa Nghiêm thì khẳng định :

    - Trí tuệ là linh hồn của một Bồ-tát.

    - Thiền định là sức mạnh của một Bồ-tát.

    - Từ bi là sắc thái ứng xử của một Bồ-tát.

    - Kinh Pháp Hoa đã mở đầu với sự hiện diện của Bồ-tát Văn Thù ( Biểu tượng của Nhất thiết trí ) và kết thúc với hình ảnh của Bồ-tát đại hạnh Phổ Hiền ( biểu tượng của sức mạnh hành trì )

    - Kinh Hoa Nghiêm thì mở đầu với Bồ-tát Phổ Hiền và kết thúc với hình ảnh của Bồ-tát Văn thù ( biểu tượng của Nhất thiết trí )

    Kỹ thuật giới thiệu có khác nhau giữa hai Kinh, nhưng chủ ý thì chỉ có một : hành Bồ-tát hạnh để thể nhập Nhất thiết trí.

    - Nếu linh hồn của một Bồ-tát là Trí tuệ ( Prajnà ), thì linh hồn của Bồ-tát hạnh ( các phật sự của Bồ-tát ) phải là giúp chúng sinh có Chánh kiến, trí tuệ để loại bỏ vô minh, tà kiến vốn là gốc của khổ đau. Các phật sự khác của Bồ-tát là nhiếp hoá chúng sanh chỉ là phương iện. Thế nên, Bố Thí nhiếp trong ” Tứ nhiếp pháp ” của Thập địa Bồ-tát xác định Bố thí Pháp là tối thắng. Đây là phật sự giúp chúng sanh phát khởi chánh kiến, hay phát khởi ” tâm bồ đề “, và nuôi dưỡng chánh kiến, tâm bồ đề ấy, phát triển cho đến ngày mở ra Phật trí. Đây cũng là phật sự trung thành thể hiện châm ngôn ” Duy Tuệ thị nghiệp ” của giáo lý Phật giáo. Sứ mệnh của Phật giáo là thế, và sứ mệnh của một Bồ-tát cũng là thế !

    VI. Kết luận

    Giữa biển sinh tử đầy vô thường, chúng sinh không thể tránh khỏi các khổ đau gây ra bởi các nhân tố khách quan và chủ quan. Nhân tố tác hại triền miên và lớn nhất vẫn là chính dục vọng, tham ái, chấp ngã của tự thân mỗi chúng sinh. Chúng sinh luôn luôn cần sự giúp đỡ, khích lệ, hộ trì của vô lượng bàn tay của các thiện hữu và của chư Bồ-tát. Ngay dưới thời Đức Phật, Ngài thấy, ngoài đoàn thể chư Tăng đông đảo và trí tuệ, đức hạnh, còn cần tổ chức các đoàn thể cư sĩ hành hạnh lợi tha ( như hạnh Bồ-tát ) để trải rộng và sâu các phật sự vào cuộc đời. Tăng Chi Bộ Kinh IV, phẩm Gia Chủ Hatthaka ( Anguttara – Nikàya, Vol .IV ) ghi lại pháp môn ” Tứ nhiếp pháp ” mà Thế Tôn truyền dạy riêng cho cư sĩ Hatthaka ( đã đắc Thánh quả A-na-hàm; cả cư sĩ Citta cũng thế ) để lãnh đạo thành công việc sinh sống, tu tập của một chúng cư sĩ 500 người. Kinh Hoa Nghiêm đã kết hợp Tứ Nhiếp pháp vào phật sự của chư Bồ-tát Thập điạ, và cả 44 quả vị trước trước Thập địa, nói lên rằng chư Bồ-tát có thể đi đến Nhất thiết trí trong phật sự độ sinh, và chúng sinh khổ đau có thể đến với trí tuệ Phật giáo trong đời sống gia đình phàm trần của họ. Hoa Nghiêm, và cả các Kinh Đại thừa Phật giáo, đồng thời cũng nói lên rằng chúng sinh rất khẩn thiết cần đến sự giúp đỡ của trí tuệ vô ngã và lòng đại bi của chư Bồ-tát. Phật sự phát huy Phật giáo trong mọi thời đại cũng khẩn thiết cần đến sự biểu hiện của trí tuệ và lòng đại bi ấy giữa cuộc đời. Đây là ý nghĩa của sự ra đời của chư Bồ-tát, Bồ-tát hạnh và Bồ-tát thừa mà từ ngữ Bodhisattà đã gợi ý : một chúng sinh có trí tuệ đi ra khỏi khổ đau, và đưa các chúng sinh về với trí tuệ đi ra khỏi khổ đau…

    Thích Chơn Thiện

    XEM THÊM YẾU GIẢI 37 PHÁP HÀNH BỒ TÁT ĐẠO (RẤT HAY)

  • Dành cho Phật tử tại gia muốn thâm nhập và ứng dụng các pháp hành Bồ Tát Đạo của mình trong cuộc sống hiện tại. Từ ngữ dễ hiểu, không cao siêu, giáo điều, nghiêm ngặt như các trang web khác và dễ ứng dụng. Xin chia sẽ với mọi người muốn hành đạo Bồ tát trên con đường giải thoát giác ngộ cho mình và cho tha nhân. Mọi con đường và phương pháp thực hành khó hay dễ, căn cơ cao hay thấp, không quan trọng bằng việc dựa vào phương pháp nào mà chúng ta có thể vận dụng và thực hành nó trong đời sống. Thuốc mắc tiền hay thuốc rẻ tiền chẳng quan trọng, miễn thuốc đó có trị được TÂM bệnh của chúng sanh hay không?
  •  http://tinhdo.net/sachdao/309-yeugiai37phaphanhbotatdao

Bồ Tát Hạnh
(Bodhicaryàvatàra)

Santideva (Bình Thiên)
Thích Trí Siêu dịch

 

 Mục Lục

Lời tựa

Tiểu sử Tôn Giả Santideva

1.  Xưng Tán Bồ Ðề Tâm

2.  Sám Hối

3.  Phát Bồ Ðề Tâm

4.  Thực Hành Bồ Ðề Tâm

5.  Giữ gìn tâm ý

6.  Nhẫn nhục

7.  Tinh tấn

8.  Thiền định

9.  Trí Huệ

10. Hồi hướng công đức

Thư mục

Kính dâng sách này lên
Hòa Thượng Bổn Sư thượng Huyền hạ Vi
và Lama Guendune Rinpoché

-ooOoo-

Lời Tựa

Mục đích chung của người tu Phật là cầu giác ngộ giải thoát, nhưng đối với người theo Phật giáo Ðại Thừa thì mục đích chính là phải cầu thành Phật.

A La Hán cũng giác ngộ giải thoát, Bích Chi Phật cũng giác ngộ giải thoát, chư Tổ Thiền cũng giác ngộ giải thoát, nhưng các Ngài vẫn chưa phải là Phật. Nhưng tại sao lại phải cầu thành Phật chứ? Ðược giác ngộ giải thoát chưa đủ sao?

- Chưa đủ! Ðủ làm sao được đối với người đã hiểu, đã thấy tất cả chúng sinh chính là mình, mình chẳng khác với chúng sinh; cái khổ của chúng sinh chính là cái khổ của mình và sự giải thoát của chúng sinh cũng là sự giải thoát của mình. Nếu chưa hiểu được vậy thì ít nhất cũng phải suy nghĩ, từ vô thỉ đến nay, trôi lăn trong sinh tử luân hồi tất cả chúng sinh đều đã ít nhất một lần làm cha mẹ ta, đã nuôi nấng, thương yêu, chăm sóc ta chẳng quản khó nhọc, nhiều khi còn phải hy sinh tánh mạng vì ta. Như thế, ta nỡ lòng nào cầu giác ngộ giải thoát một mình? Nhưng chúng sinh đông quá làm sao độ cho hết? Ðại A La Hán kia như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên còn chỉ độ được vài trăm đệ tử, nói chi ta đây là kẻ phàm phu? Ðành rằng các vị A La Hán là những người giác ngộ giải thoát, nhờ chuyên tu thiền định, diệt trừ phiền não, song từ những kiếp xa xưa, các ngài không lập những thệ nguyện rộng lớn vì chúng sinh, không dám xả thí thân mạng, tài sản, vợ con, không biết gần gũi, thân cận, cúng dường chư Phật, Bồ Tát, Thiện tri thức. Do đó các ngài chưa có đủ công đức, trí huệ, hùng lực như chư Phật. Chỉ có Phật mới đầy đủ khả năng giáo hóa, cứu độ chúng sanh vô lượng. Ngoài ra trong kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, đức Phật đã khai thị rõ về Phật tánh, khuyên nhắc chúng sinh cầu Phật quả. Chúng ta là con Phật (Phật tử) thì phải cố gắng được như cha của mình chứ! Bước đầu tiên là chúng ta phải phát nguyện cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh. Sự phát nguyện (hay tâm niệm) đó gọi là Bồ Ðề Tâm (Bodhicitta). Khi vừa phát tâm như vậy thì chúng ta liền trở thành một Bồ Tát (Sơ phát tâm). Chư Phật ba đời cũng đều phát xuất từ chư Bồ Tát, do đó trong kinh Bảo Tích Ðức Phật đã không ngớt khen ngợi và đề cao hàng Sơ phát tâm Bồ Tát: “Hàng Sơ phát tâm Bồ Tát, tuy căn tánh Bồ Tát chưa đầy đủ, đức tướng Bồ Tát chưa trọn vẹn hiển bày cho mọi người thấy được, nhưng các Thiện Thần Vương hết lòng tôn trọng đến hộ vệ… Bồ Tát Sơ phát tâm chưa có công đức gì, nhưng đem so với A La Hán vẫn còn cao hơn … Này Ca Diếp! Thí như hạt châu lưu ly nhỏ mà giá trị hơn là khối thủy tinh lớn như núi Tu Di. Bồ Tát cũng như vậy, ngay từ khi phát tâm cũng đã hơn hàng Thanh Văn, Bích Chi (tr 142, kinh Bảo Tích do T.T. Ðức Niệm dịch). Do đó, khi vừa phát tâm Bồ Ðề thì liền trở thành Bồ Tát, không cứ phải đến các Ðại Giới Ðàn thọ Bồ Tát giới mới được xem là Bồ Tát. Nói như vậy không có nghĩa là bác bỏ việc thọ giới, ngược lại hành giả Ðại Thừa rất nên cầu thọ giới pháp, vì thọ (hay truyền) giới trong sự trang nghiêm, đúng phép rất có lợi ích, nó có khả năng tác động mạnh vào tâm khảm của giới tử, và nếu giới tử thanh tịnh thành khẩn thì được xem là đắc giới. Nhưng thọ Bồ Tát giới và chỉ lo giữ giới Bồ Tát không chưa đủ để được xem là Bồ Tát. Bồ Tát giới chỉ là hàng rào ngăn chặn giúp hành giả Bồ Tát không bị sa đọa, đó là phần tiêu cực.

Hành giả Bồ Tát phải tích cực hành Bồ Tát hạnh, nghĩa là mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý niệm đều hướng về chúng sinh, vì lợi ích chúng sinh. Khi tụng một thời kinh thì trên cúng dường chư Phật, dưới cầu cho pháp âm tỏa khắp pháp giới làm lợi ích chúng sinh. Ngồi thiền dù chỉ năm phút cũng cầu giác ngộ bổn tánh. Ðể làm gì? Ðể cứu độ chúng sinh. Niệm Phật dù chỉ mười câu cũng không quên hồi hướng công đức cho chúng sinh. Ðược như thế mới xứng đáng là Bồ Tát, là trưởng tử của Như Lai. Ðâu cứ phải làm chùa to, tượng lớn mới gọi là Bồ Tát. Nói như vậy không có nghĩa là đả kích việc làm chùa to, tượng lớn, vì chùa to, tượng lớn cũng chỉ là vật vô tri, tự nó đâu có lỗi lầm gì, chẳng qua tùy thuộc nơi người làm, nếu làm với tinh thần vô ngã, bất vụ lợi, vì lợi ích chúng sinh thì rất được xưng tán, cúng dường.

Sau khi phát tâm Bồ Ðề (còn gọi là Bồ Ðề Tâm nguyện), hành giả Bồ Tát cần phải noi theo gương của chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai, hành Bồ Tát Hạnh (còn gọi là Bồ Ðề Tâm Hạnh). Bồ Tát Hạnh được nói nhiều trong kinh Hoa Nghiêm và Ðại Bát Nhã, nhưng lời kinh quá thâm diệu và chư Bồ Tát nhất là trong kinh Hoa Nghiêm đều là những bậc Ðại Sĩ Bồ Tát đã phát tâm Bồ Ðề và thực hành Bồ Tát Hạnh từ quá khứ vô lượng vô biên kiếp hải. Do đó chúng ta, hàng Sơ phát tâm Bồ Tát chỉ biết đảnh lễ hoặc lắc đầu thè lưỡi, không dám hoặc không biết làm sao noi theo. Hạnh của Bồ Tát tuy nhiều vô lượng vô biên nhưng tóm lại không nằm ngoài Thập Ba La Mật hay Lục Ba La Mật, và như thế chúng ta có thể bắt đầu học hỏi và tu tập Lục Ba La Mật, còn gọi là Lục Ðộ.

Người học Ðạo nên có tinh thần như của Thiện Tài Ðồng Tử, tức là không bao giờ cho sự hiểu biết đạo lý hay chứng đắc của mình là đủ, luôn luôn tìm thầy hoặc thiện tri thức tham vấn học hỏi. Nếu không có duyên gặp được thầy lành bạn tốt thì ít nhất cũng phải nương theo Kinh, Luật, Luận vạch cho mình một hướng đi áp dụng vào đời sống hằng ngày.

Vào cuối hạ năm 89, tôi có dịp gặp Guéshé Tengyé, Viện Trưởng Tu Viện Vajrayogini ở Lavaur, thấy ngài đọc một quyển sách. Hỏi ra, tôi được biết đó là Bodhicaryàvatàra (Bồ Tát Hạnh) và cũng là kinh nhật tụng của ngài. Rồi ngài hỏi lại tôi: “Có là Bồ Tát không, nếu là Bồ Tát thì phải đọc Bồ Tát Hạnh”. Thế là từ đó trở về, tôi tìm đọc và nghiên cứu Bồ Tát Hạnh. Mãi đến năm nay, gặp nhân duyên và được khuyến khích nên tôi mạo muội dịch tập sách này vì thấy những hạnh Bồ Tát nằm trong đó có vẻ gần gũi với chúng ta (hàng Sơ phát tâm Bồ Tát) hơn là trong các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhã… Tuy có học được một chút Tạng ngữ, nhưng tự thấy chưa đủ để có thể dịch hoàn toàn từ Tạng văn ra Việt văn nên cuối cùng tôi nương vào 3 tài liệu sau:

1. Byang.chub.sems.dpai’.spyod.pa.la.’jug.pa: bản Tạng văn.
2. La marche à la lumière: bản Pháp văn dịch từ Phạn văn của Louis Finot.
3. A guide to the Bodhisattva’s way of life: bản Anh văn dịch từ Tạng văn của Stephen Batchelor.

Bồ Tát Hạnh nguyên bản Phạn văn là một loại thi ca, viết theo văn vần, gồm 913 bài kệ, chia làm 10 chương. Bản Tạng văn cũng được dịch theo văn vần. Nhưng ở đây, trước hết vì không phải là thi sĩ, sau nữa tôi noi theo các bản dịch đã có trước bằng Anh và Pháp văn, viết theo văn xuôi dễ hiểu cho người đọc.

Tác giả tập Bồ Tát Hạnh là Tôn Giả Santideva (Bình Thiên) người Ấn Ðộ, sống vào khoảng thế kỷ thứ 7 (xin xem tiểu sử ở chương sau). Trong tập sách này tôn giả đi từ Xưng tán Bồ Ðề Tâm, Sám hối, Lục Ðộ và sau cùng đến Hồi Hướng công đức. Bạn đọc có thể ngạc nhiên không thấy nói về Bố Thí, nhưng phát Bồ Ðề Tâm và hành Bồ Tát Hạnh đã là một sự bố thí cao thượng lắm rồi, ngoài ra Bố Thí được bàng bạc nói đến trong các chương sau. Riêng trong phẩm Thiền Ðịnh, tôn giả nhấn mạnh tới lối sống ẩn dật nơi rừng núi, hoặc những nơi thanh vắng để tu tập quán chiếu về Vô Ngã. Trong phẩm Trí Huệ, tôn giả Santideva (thuộc trường phái Trung quán) lập cuộc đối thoại tranh luận giữa ngài và các trường phái khác, cốt để xiển dương Tánh Không. Có nhiều đoạn quá xúc tích nên tôi thêm vào những chú thích ở cuối trang giúp bạn đọc hiểu rõ hơn.

Rất mong Bồ Tát Hạnh sẽ bổ túc cho Bồ Tát Giới. Bạn đọc có thể học thuộc lòng vài phẩm, vài đoạn hoặc đọc tụng, cũng như các thiền sinh thuở trước học thuộc Quy Sơn Cảnh Sách, hoặc như tu sĩ Nam Tông thuộc làu kinh Pháp Cú vậy. Ðọc tụng để những tư tưởng Bồ Tát thâm nhập vào tâm và từ đó sẽ khởi ra hiện hành hướng dẫn ta trong từng ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động đúng theo hạnh mà chư Bồ Tát đã làm.

Sau cùng tôi xin ghi ơn Dagpo Rinpoché, giáo sư Phật học và Tạng ngữ tại đại học INALCO Paris Dauphine, đã giảng dạy và giải đáp nhiều thắc mắc cho tôi, Jenny Tcheuden đã cung cấp cho tôi tài liệu, Thérésa Scott-Carroll và phật tử Chúc Tịnh đã khuyến khích tôi soạn dịch tập sách này. Tuy vậy, bản dịch chắc còn nhiều thiếu sót, vụng về, trách nhiệm đó hoàn toàn về du tăng. Rất mong sau này sẽ có các bậc cao minh giảo chính lại cho hoàn hảo hơn.

Xin hồi hướng công đức này cầu cho tất cả chúng sinh ý thức được sự vô thường, đau khổ của cuộc đời, đồng phát tâm Bồ Ðề và đồng sanh Tây phương Cực Lạc.

Thanh Sơn Lộ, tháng 7 năm 1990.
Thích Trí Siêu.

Tiểu Sử Tôn Giả Santideva

Theo truyền thuyết, tôn giả Santideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra.

Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát. Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ Tát : Văn Thù và Tara [1]. Bồ Tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: “Ở đây không có chỗ cho hai người”; Bồ Tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài nói rằng: “Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi với nước này đây”.

Tĩnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ Tát nên đêm hôm trước ngày lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc. Sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: “Cô ở đâu đến?”

- Thiếu nữ trả lời: “Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”. Vừa nghe như thế, tôn giả Santideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Ðến nơi ngài thấy đó là một hành giả Du Già (Yogi) sống trong một chòi lá. Ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát.

Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara.

Kể từ đó, ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát. Sau đó ngài đi về phương đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Ðể tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh thủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ [2].

Ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật Pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Ðiều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách dèm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: “Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bào giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời, cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: “Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đòi xem. Cuối cùng Thừa tướng tâu: “Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của Vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Ðại thành tựu giả [3] nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù.

Sau đó tôn giả từ bỏ chức Thừa tướng, tìm đến Tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Santideva. Sau khi nghe hết 3 tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksasamuccaya, Sutrasamuccaya và Bodhicaryavatara. Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ Tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang (Eussel, Clear Light). Tuy vậy chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế, một số Thượng tọa học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến: “Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận, chắc chắn y sẽ phải tự động rút lui, rời bỏ Tu viện vì y chỉ ăn với ngủ đâu có bao giờ tu học gì”. Thế rồi đến phiên tôn giả Santideva phải trùng tuyên lại Kinh Luận, ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: “Nếu vậy phải làm cho tôi một tòa sư tử [4] tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.

Sau khi lên ngồi tòa sư tử, ngài hỏi: “Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này”. Vì muốn chế diễu ngài nên đại chúng nói: “Những sáng tác mới sau này”.Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattva-carya-vatara). Khi tụng đến câu: “Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…” thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại 3 quyển: Sutrasamuccaya [5], Siksacamuccaya và Bodhicaryavatara.

Chú thích:

[1] Tara là một hóa thân hình nữ của Quán Thế Âm, trong Phật giáo Ấn Ðộ và Tây Tạng được nói đến rất nhiều. Quán Thế Âm, khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ, ngài nhỏ lệ từ bi và giọt lệ này rơi xuống hóa thành Tara.

[2] Văn Thù Bồ Tát, thường hiện thân, tay phải cầm kiếm trí tuệ, tay trái cầm kinh Bát Nhã.

[3] Mahasiddha: người tu hành đắc đạo có thần thông.

[4] Simhasana: tòa ngồi chỉ dành cho những hàng Tỳ Kheo Trưởng lão Pháp sư.

[5] Hai tập Siksasamuccaya (Giáo Tập Yếu) và Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh) chắc chắn tác giả là ngài Santideva, riêng tập Sutrasamuccaya, đa số các học giả đều công nhận tác giả là ngài Long Thọ (Nagarjuna). Tiểu sử này tôi rút tỉa từ 2 tài liệu History of Buddhism in India của Taranatha và La Légende de Santideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVi. Trong tạng luận của Tây Tạng có nói đến bộ Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa mà học giả Marcelle Lalou đã chuyển sang lại Sanskrit là Visvasutrasamuccaya, tập này ngày nay đã bị mất tích. Theo học giả J.W.DeJong thì có lẽ 2 tập này tương tựa nhau nên các sử gia Tây Tạng và luận gia Ấn Ðộ cùng cho tác giả của Kinh Tập Yếu (Sutrasamuccaya) là ngài Santideva. Kinh Tập Yếu đã được Hòa Thượng Linh Sơn thượng Huyền hạ Vi dịch từ Hán văn ra Việt văn năm 1985 với tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp.

Chương 1

Xưng Tán Bồ đề Tâm

1) Sau khi thành tâm đảnh lễ tất cả chư Phật, chư Bồ Tát cùng tất cả thầy tổ đáng kính, tôi xin trình bày sơ lược con đường tu tập mà tất cả hàng con Phật (Bồ Tát) đều đã đi qua.

2) Về giáo pháp, tôi không có gì đáng nói thêm và tôi cũng không phải là một văn sĩ trước tác. Tôi viết tập sách này với mục đích chính là để nhắc nhở và điều phục tâm mình chứ không phải cho ai khác.

3) Nhờ sự nhắc nhở hướng thiện này mà căn lành nơi tôi được tăng trưởng. Bởi thế, rất mong những ai đồng hoàn cảnh cũng có thể rút tỉa được sự lợi ích nơi đây.

4) May mắn thay! Hy hữu thay cho chúng ta đã gặp đủ thiện duyên để tu hành giải thoát. Nhưng nếu không biết suy nghĩ thừa cơ hội trau giồi phước huệ thì không biết đến bao giờ (kiếp nào) mới có lại được như ngày hôm nay.

5) Chúng sinh tuy trôi lăn trong sinh tử luân hồi, nhưng nhờ thần lực của chư Phật, lâu lâu cũng khởi được một niệm nghĩ đến điều lành. Giống như trong đêm tối, bao phủ bởi mây đen, ánh sáng của sấm chớp lóe lên rồi liền tắt.

6) Làm sao chống chọi được với nghiệp chướng sâu dày, khi căn lành tích tụ lại quá mỏng manh, nếu ta không biết nương theo Bồ Ðề Tâm?

7) Quán chiếu trong vô lượng kiếp, chư Phật đã tìm ra được bảo vật này (Bồ Ðề Tâm) có thể đưa vô lượng chúng sinh đến bờ an vui giải thoát.

8) Những ai muốn thoát khỏi đau khổ của luân hồi, cứu độ chúng sinh, an hưởng chân hạnh phúc, phải luôn luôn nhớ không được rời bỏ Bồ Ðề Tâm.

9) Tuy còn trôi lăn trong luân hồi, trói buộc bởi phiền não, nhưng kẻ nào vừa phát Bồ Ðề Tâm thì ngay khi đó liền trở thành “Con của Ðấng Thiện Thệ” (Fils des Sugatas). Chư thiên và loài người sẽ cung kính kẻ đó.

10) Nước phép Bồ Ðề Tâm sẽ biến thân thể bất tịnh này thành một hòn ngọc vô giá vì nó chứa đựng một đức Phật (tương lai). Do đó hãy gìn giữ cẩn thận Bồ Ðề Tâm.

11) Là người trôi lăn trong ba cõi, muốn cầu giải thoát, bạn phải nắm giữ cẩn thận Bồ Ðề Tâm. Nó là hòn ngọc vô giá đã được kiểm chứng và công nhận bởi các bậc Ðạo Sư giải thoát duy nhất.

12) Tương tự như cây chuối, tất cả công đức khác đều tan biến sau khi đã cho ra quả. Nhưng Bồ Ðề Tâm là một loại cây công đức luôn luôn tăng trưởng, tiếp tục sinh hoa kết trái không bao giờ tàn lụi.

13) Một người, dù cho có phạm nhiều tội nặng đi nữa, chỉ trong một chốc lát cũng có thể giải trừ được nếu biết trở về với Bồ Ðề Tâm. Giống như thoát khỏi cơn hoạn nạn vì biết tìm sự bảo vệ nơi kẻ có thế lực mạnh. Chỉ có những kẻ vô ý mới không nương tựa Bồ Ðề Tâm.

14) Cũng như hỏa tai của kiếp hoại, Bồ Ðề Tâm có thể đốt cháy tất cả tội lỗi, nghiệp chướng trong chốc lát. Công đức vô lượng không thể nghĩ bàn của nó đã được Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) giảng nói cho Thiện Tài (Sudhana) [1].

15) Tóm lại có hai loại Bồ Ðề Tâm: Bồ Ðề Tâm Nguyện và Bồ Ðề Tâm Hạnh.

16) Sự khác biệt có thể ví như một người muốn đi và một người đang đi.

17) Riêng Bồ Ðề Tâm Nguyện, tự nó đã mang sẵn nhiều quả báo lành nhưng vẫn chưa bằng Bồ Ðề Tâm Hạnh, nguồn gốc của tất cả công đức.

18-19) Người nào mà trong tâm biết khởi một ý niệm nguyện cứu tất cả chúng sinh ra khỏi cảnh khổ thì dù ngay trong giấc ngủ hay những lúc lơ đễnh, công đức của người nay vẫn tiếp tục tăng trưởng, phủ khắp hư không.

20) Công đức của Bồ Ðề Tâm đã được chính đức Như Lai tuyên thuyết trong kinh Subahupriccha để sách tấn những người chùn chân, muốn dừng bước nơi Nhị Thừa.

21-22) Nhất tâm chữa trị bịnh nhức đầu cho vài người thôi cũng đã đem lại vô số công đức, nói chi đến muốn cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ phiền não, đưa họ đến chỗ an vui hạnh phúc.

23) Từ xưa đến nay, đã có người cha nào, mẹ nào dám phát một lời nguyện rộng lớn như thế? Có vị Trời nào, Ðạo sĩ nào, Bà la môn nào?

24) Chưa từng có một ai dám phát nguyện như thế, dù cho chính mình, ngay trong giấc mơ, nói chi đến chuyện cứu độ kẻ khác!

25) Ôi làm sao tìm ra được một vị Bồ Tát (hòn ngọc vô giá) trong khi tất cả chúng sinh quá ích kỷ, không bao giờ biết làm điều lành cho kẻ khác?

26) Nó là nguồn cội của hạnh phúc thế gian, là liều thuốc trị đau khổ cho nhân loại, là ngọc kim cương của tâm… Làm sao kể cho hết giá trị của nó (Bồ Ðề Tâm).

27) Khởi một niệm lành đến một người thôi, công đức cũng đã hơn sự lễ Phật. Thử hỏi công đức sẽ bao nhiêu nếu biết thực hiện an vui hạnh phúc cho tất cả chúng sanh?

28) Con người muốn chạy trốn đau khổ nhưng lại trầm mình trong đau khổ; mong cầu hạnh phúc nhưng lại (vô tình) tàn hoại nguyên nhân của hạnh phúc, xem nó như kẻ thù.

29-30) Ai sẽ cắt đứt sự hành hạ khổ đau cho chúng sinh, thỏa mãn sự thèm khát hạnh phúc, cũng như sự điên cuồng của họ? Tìm đâu ra được một hiền giả, một thiện tri thức như thế?

31) Người ta luôn luôn khen ngợi kẻ mang ơn mà biết đền ơn. Vậy sẽ nói sao đây đối với một vị Bồ Tát luôn luôn ban ơn mà không cần ai hỏi?

32) Kẻ biết bố thí một bữa ăn cho vài người ăn xin cũng đã được xem như một hiền giả đạo đức. Dù sự bố thí đó chỉ kéo dài một giờ đồng hồ, với những món ăn tầm thường vừa đủ để lót dạ nửa ngày cho những kẻ ăn xin khổ cực kia.

33) Chúng ta phải nói sao đây đối với vị Bồ Tát đã bố thí trong vô lượng kiếp, cung cấp thỏa mãn tất cả mong muốn hạnh phúc của vô số chúng sinh số lượng như hư không?

34) Người nào khởi một niệm xấu ác trong bao nhiêu giây đối với bậc hiền giả Bồ Tát trên thì sẽ phải đọa địa ngục bấy nhiêu kiếp. Ðức Như Lai đã tuyên bố như thế.

35) Những kẻ nào, tâm biết trở về nương tựa nơi vị Bồ Tát trên thì kẻ đó sẽ gặt hái rất nhiều công đức, dư đủ để tiêu trừ tội chướng quá khứ.

36) Tôi xin đảnh lễ và xưng tán tất cả chư Bồ Tát, những người mà trong tâm đã làm phát sinh ra hòn ngọc vô giá (Bồ Ðề Tâm). Các ngài luôn luôn đem lại hạnh phúc cho mọi người, ngay cả đối với những ai hủy báng, não hại các ngài. Tôi xin trở về nương tựa nơi chư Bồ Tát, nguồn cội của chân hạnh phúc.

Chú thích:

[1] Trong kinh Hoa Nghiêm (Gandavyuhasutra)

Chương 2

Sám Hối

1) Ðể có được hòn ngọc vô giá (Bồ Ðề Tâm) tôi xin xưng tán và đảnh lễ tất cả chư Phật, Thánh Diệu Pháp và chư Bồ Tát, các ngài là biển công đức của tất cả chúng sinh.

2-6) Tất cả hoa trái, báu vật thế gian, các loại nước cam lồ thanh tịnh và ngon ngọt, những nọn núi đầy bảo châu, hoa thơm, cỏ lạ, tất cả mùi hương trầm của thế giới Trời, Người, những cây cho ra quả bằng ngọc lưu ly, những cây thành tựu điều ước [1], những hồ sen thanh khiết với tiếng hát của đàn thiên nga, tất cả bảo vật đầy dãy hư không. Sau khi quán tưởng những thứ trên trong tâm, tôi xin cúng dường lên chư Phật và các Trưởng Tử của Như Lai (Bồ Tát). Các Ngài là những bậc Ứng cúng, Ðại Từ, Ðại Bi, xin hãy thương xót tôi mà chấp nhận sự cúng dường trên.

7) Tôi là kẻ bần cùng không chút phước đức, không có gì khác để cúng dường. Ôi! Những đấng Che Chở [2] luôn thương xót bảo vệ kẻ yếu, hãy vì tôi mà chấp nhận sự cúng dường trên.

8) Từ nay cho đến cùng tột đời vị lai, tôi xin cúng dường và phó mặc toàn thân tôi cho các bậc Thắng Vương [3] và các Thắng Vương Tử. Xin hãy chấp nhận cho tôi được phụng sự các ngài với lòng thành kính.

9) Ðược nằm trong tay của các ngài, tôi sẽ trở thành kẻ vô úy, không còn sợ hãi điều gì ở thế gian này. Tôi sẽ làm cho chúng sinh được an vui, tẩy trừ mọi nghiệp chướng và không bao giờ tái phạm.

10-11) Trong những bồn tắm thơm ngát, lát bằng cẩm thạch và lưu ly trong suốt, có những cột trụ kết bằng bảy báu huy hoàng. Tôi sửa soạn nước tắm cho chư Phật và các Trưởng tử của ngài, trong nhịp điệu của tiếng hát và âm nhạc với những bình nước khảm ngọc trai, chứa toàn hoa lạ và nước thơm.

12) Sau đó tôi sẽ lau khô báo thân của các ngài bằng những giải lụa thanh tịnh vô nhiễm và khoác lên các ngài những y phục trong sạch, thơm ngát.

13) Với những thiên phục mềm mỏng, huy hoàng rực rỡ, tôi sẽ khoác lên ngài Phổ Hiền (Samantabhadra), Di Lặc (Ajita), Văn Thù (Manjughosa), Quán Âm (Lokesvara) và tất cả chư Bồ Tát khác.

14) Trên thân của chư Phật sắc vàng óng ánh, tôi sẽ xức lên tất cả các loại dầu thơm tuyệt diệu mà mùi hương thông khắp pháp giới.

15) Tôi sẽ kết tất cả loại hoa thơm và đẹp như hoa đinh hương, hoa lài, hoa sen xanh thành tràng để cúng dường và xưng tán chư Phật.

16) Tiếp theo tôi sẽ xông lên những đám mây hương thanh khiết, vi diệu và dâng lên các ngài những món trân vị mềm và cứng cùng các loại giải lao.

17) Tôi sẽ trang hoàng những ngọn đèn làm bằng ngọc báu, xếp trên những bông sen vàng và dọc trên đường đi tôi sẽ rải đầy hương thơm cỏ lạ.

18) Trên hư không, vang dội những khúc nhạc trời, vô số dinh thự nguy nga, trang hoàng bằng những vòng đai bằng cẩm thạch, bảo châu…

19) Tôi sẽ cúng dường lên các đấng Mâu Ni những tàng lọng cao lớn khảm xà cừ tuyệt đẹp, với trục làm bằng vàng ròng.

20) Ðể chúng sinh được an vui, kể từ bây giờ, nguyện cho những đám mây cúng dường trên được trổi dậy vang rền tiếng nhạc trời.

21) Nguyện cho những đám mưa hoa và ngọc báu luôn rơi trên những bảo tháp, tượng Phật và kinh Phật.

22) Như Văn Thù và các Bồ Tát đã cúng dường các bậc Thắng Vương, tôi cũng xin cúng dường chư Phật và các Trưởng tử của Phật.

23) Tôi cũng xin xưng tán các biển công đức (chư Phật, chư Bồ Tát) bằng những lời êm dịu bất tận. Nguyện những lời ca tán thán này luôn luôn hướng về các ngài.

24) Trong pháp giới có bao nhiêu vi trần thì tôi cũng xin phân thân ra bấy nhiêu để đảnh lễ chư Phật ba đời cùng Pháp và Tăng.

25) Tôi cũng xin đảnh lễ trước tất cả bảo tháp, trước những nơi nào Bồ Ðề Tâm ảnh hiện [4], trước những bậc thầy tôn kính và các nhà tu hành.

26) Từ nay cho đến khi được Vô Thượng Bồ Ðề, con nguyện quy y nơi Phật, Pháp và toàn thể chư Bồ Tát.

27) Với hai tay chắp lại, con xin khấn nguyện đến chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi ở khắp mười phương.

28-29) Từ vô thỉ trôi lăn trong sinh tử cho đến ngày nay, bởi vô minh che lắp, con đã tạo nhiều điều ác và xúi giục người khác phạm lỗi. Ngày nay biết sự lỗi lầm, con xin thành tâm sám hối trước chư Phật.

30-31) Tất cả lỗi lầm đã phạm qua ba nghiệp, thân, khẩu, ý, đối với Tam Bảo, với cha mẹ và các bậc tôn trưởng, tất cả lỗi lầm thúc đẩy bởi vô minh ái dục, tất cả con xin phát lồ sám hối. Ôi đấng Thiện Thệ!

32) Làm sao thoát khỏi tội lỗi đã làm? Xin ngài hãy cứu con! Giúp con tẩy trừ nghiệp xấu trước khi thần chết đến.

33) Ôi mạng sống con người mong manh. Thần chết không bao giờ biết chờ ai cả, dù kẻ đó khỏe mạnh hay bịnh tật.

34) Chỉ vì ham cầu sung sướng, chạy trốn khổ cực mà ta đã tạo nhiều điều ác. Há ta không hiểu rằng một ngày nào đó sẽ phải ra đi với hai bàn tay trắng sao?

35) Ngày đó sẽ chẳng còn lại gì cả! Từ những kẻ thù ta, những kẻ thương ta và ngay cả chính xác thân ta cũng không còn nữa.

36) Tất cả cảnh vật mà ta đã thấy, nghe, chỉ còn lại là một ký ức, tựa như giấc chiêm bao, trải qua rồi biến mất, không bao giờ trở lại.

37) Trong cuộc đời ngắn ngủi này, biết bao bạn bè và kẻ thù ta đã ra đi. Duy chỉ còn lại nghiệp xấu ác (mà ta đã tạo với họ) là còn ở lại bên ta đe dọa.

38) Vì không hiểu và ý thức được ta chỉ là một kẻ du khách trên cuộc đời này nên ta đã để cho vô minh, ái dục, sân hận dẫn dắt tạo nghiệp.

39) Mạng căn, nhựa sống tàn lụi ngày đêm không ngừng. Không có chi ngăn cản được. Làm sao cái chết lại không thể đến với ta được?

40) Nằm dài trên giường bịnh, tuy có họ hàng vây quanh nhưng ta sẽ phải cảm thọ đau đớn một mình trong cơn hấp hối.

41) Một khi bị sứ thần của Yama [5] bắt đi, thử hỏi tìm đâu ra được anh em bạn bè? Duy chỉ có công đức lành mới có thể cứu được ta, nhưng ô hô, trong lúc sống có bao giờ ta nghĩ đến nó đâu?

42) Vì ngu si, nông nỗi không ý thức được hậu quả mai sau nên ta đã bám víu vào cuộc đời phù du này mà tạo nhiều điều xấu ác.

43) Một tên tù binh khi bị hành hình thì thân mình co rút, cổ họng thắt nghẹt, ánh mắt lờ đờ không còn nhìn rõ gì nữa.

44) Thử hỏi trường hợp của ta sẽ ra sao khi bị bịnh tật, hấp hối hành hạ và nhất là bị sứ thần của Yama bắt đi?

45) Lúc đó mắt ta sẽ hốt hoảng cầu cứu. Nhưng ai là người có thể bảo vệ che chở cho ta trong cơn hiểm nạn này.

46) Tìm khắp không thấy ai che chở, sợ hãi ta rơi vào hôn mê bất tỉnh. Ôi số phận ta sẽ ra sao?

47) Do đó, ngày hôm nay đây, con xin nương tựa, cầu sự che chở của chư Phật, chư Thắng Vương, là những bậc Ðại Hùng, Ðại Lực giải trừ mọi sợ hãi cho chúng sinh.

48) Nơi Thánh Pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, có thể đưa chúng sinh đến giải thoát và nơi toàn thể chư Bồ Tát.

49) Vì yếu đưối, sợ hãi nên con xin nương tựa và phó mặc đời con cho Phổ Hiền Bồ Tát, con cũng xin dâng mình cho Văn Thù Bồ Tát.

50) Nơi Quán Thế Âm Bồ Tát, luôn luôn cứu khổ vì lòng đại bi, con xin khẩn cầu đến Ngài với tiếng kêu sợ hãi, thất vọng: “Xin Ngài cứu con, một kẻ lầm mê!”

51) Nơi Hư Không Tạng Bồ Tát (Akasagarbha) và Ðịa Tạng Vương Bồ Tát (Ksitigarbha) cùng chư Ðại Bồ Tát, con xin khẩn nguyện đến tất cả cầu sự che chở.

52) Con cũng xin nương tựa nơi Kim Cang Tạng Bồ Tát (Vajrapani), người mà tất cả ma quỷ và sứ thần của Yama đều sợ hãi chạy trốn.

53) Bao lần con đã quên lời dạy bảo của các ngài, ngày nay đứng trước hiểm nạn, sợ hãi, con trở về nương tựa nơi các ngài. Xin hãy mau cứu con!

54) Thông thường khi đau bịnh nhẹ, người ta còn không dám trái lời bác sĩ. Nói chi đến khi bị hành hạ bởi 404 căn bịnh [6], quả báo của nghiệp quá khứ.

55) Trong số các bịnh, có một loại vô phương cứu chữa, nó tàn hoại tất cả dân chúng cõi Diêm Phù Ðề.

56) Có một vị Ðại Y Vương chuyên chữa lành tất cả bịnh khổ của thân và tâm. Thế nhưng ta đã xem thường và làm trái lời vị ấy. Ôi! Sao ta có thể điên rồ như vậy được!

57) Khi đi cạnh một hố sâu vài trượng, ta biết cẩn thận, hết sức chăm chú. Thế nhưng sao ta lại vô tình nhởn nhơ đi trên bờ vực thẳm không đáy của địa ngục?

58) Nói rằng: “Ngày hôm nay cái chết sẽ không đến!”, đó là một sự an ủi giả dối. Chắc chắn nó sẽ đến và khi nó đến thì ta sẽ không còn ở đó mà nói năng gì được nữa.

59) Ai sẽ bảo ta: “Ðừng sợ hãi!”. Ai sẽ chỉ ta lối thoát? Chắc chắn ta sẽ phải chết và như vậy làm sao có thể yên tâm vui đùa được?

60) Những cảm giác khoái lạc ngày trước đã để lại cho ta những gì? Ôi! Mải mê theo cám dỗ, ta quên lời dạy bảo của bậc thầy!

61) Thôi ngày nay ta phải xa lìa vĩnh viễn cõi trần, bỏ lại cha mẹ, anh em, bạn bè, ra đi lang thang một mình, không biết về đâu? Ôi! Tình yêu và hận thù còn có nghĩa lý gì?

62) Chỉ có một điều đáng được lo lắng ngày đêm, đó là: làm ác chắc chắn đưa đến đau khổ; làm thế nào để thoát đây?

63-64) Hết thảy tội lỗi mà con đã tạo vì vô minh hay vô ý, phạm giới hoặc sai lầm, con xin phát lồ sám hối tất cả trước chư Phật, Bồ Tát. Ghê sợ tội lỗi, con xin chắp hai tay đảnh lễ không ngừng dưới chân các ngài.

65-66) Xin các ngài chứng giám cho sự phát lồ thành thật của con. Từ nay cho đến về sau, con xin phát nguyện, không bao giờ tái phạm nữa.

Chú thích:

[1] Kalpadruma: đây là 5 loại cây của cõi trời, mỗi khi chư thiên ước muốn điều chi, nó liền cho ra quả như thế.

[2] Mgon.po: protecteur, là một danh từ khác để chỉ chư Phật, Bồ Tát.

[3] Rgyal.ba: vainqueur, cũng chỉ đức Phật

[4] Tức chư Bồ Tát, vì Bồ Tát là người đã phát Bồ Ðề Tâm

[5] Yama: tử thần, còn gọi là Diêm Vương.

[6] Trong quyển Médecine Tibétaine Bouddhique, của Terry Clifford nói có 4 loại bịnh: nóng, lạnh, ma quỷ ếm và nghiệp. Mỗi loại có 101 căn bịnh, tổng cộng là 404 căn bịnh.

Chương 3

Phát bồ đề tâm

(Bồ Ðề Tâm Nguyện)

1) Tất cả chúng sinh có bao nhiêu công đức, hạnh lành tôi đều xin tùy hỷ và nguyện cho họ được an vui hạnh phúc.

2) Có bao nhiêu chúng sinh đã thoát khỏi đau khổ luân hồi, bao nhiêu hiền giả, hành giả đã chứng quả Bồ Tát, quả Phật, tôi đều xin vui mừng tán thán.

3) Tôi xin tùy hỷ, xưng tán tất cả tâm nguyện rộng lớn như biển cả của các đấng Pháp Vương, luôn đem lại hạnh phúc cho chúng sinh.

4) Tôi chắp hai tay, khẩn cầu chư Phật mười phương, xin hãy thắp sáng ngọn đuốc pháp cho những kẻ lạc đường đang rơi trong hố thẳm đau khổ.

5) Chư Phật muốn nhập Niết Bàn, tôi xin thành kính chắp tay, thỉnh cầu các ngài trụ thế vô lượng kiếp cho thế gian thoát khỏi tối tăm.

6) Bao nhiêu công đức góp nhặt được qua các hạnh lành trên, tôi hồi hướng nguyện sẽ làm người cứu khổ chúng sinh.

7) Ðối với chúng sinh đau bịnh, tôi nguyện sẽ là thuốc hay, là bác sĩ, là y tá cho đến khi nào không còn một ai đau ốm.

8) Tôi nguyện sẽ dập tắt ngọn lửa đói khát nơi chúng sinh bằng những đám mưa cam lồ. Trong thời nạn đói của kiếp hoại [1], chính tôi sẽ là đồ ăn và thức uống cho tất cả chúng sinh.

9) Tôi nguyện sẽ là kho báu vô tận, cung cấp mọi điều cần thiết cho những kẻ nghèo khổ.

10) Trong những kiếp vị lai, tất cả tài vật, công đức tích tụ trong ba đời, tôi sẽ xả bỏ không luyến tiếc để thành tựu sự giải thoát cho tất cả chúng sinh.

11) Niết Bàn chính là sự xả bỏ hoàn toàn. Trước sau gì cũng phải xả bỏ, tốt hơn là nên bố thí, cúng dường cho tất cả chúng sinh.

12-13) Tôi xin quên mình để phụng sự chúng sinh. Dù có bị đánh đập, mắng chửi, chém giết hay bị xem như một món vật mua vui đi nữa, tâm tôi vẫn vắng lặng. Vì tôi đã xả bỏ thân này cho họ rồi! Còn gì đâu mà lo lắng.

14) Dù họ có sung sướng trong khi hành hạ thân này, tôi cũng xin nguyện cho họ không bị quả báo.

15-16) Dù họ có tức giận, ác ý với tôi, có vu khống, não hại và chế diễu tôi, tôi cũng xin nguyện cho tất cả đắc quả Bồ Ðề.

17-18) Tôi nguyện sẽ là người bảo vệ cho những kẻ yếu đuối, người chỉ đường cho những hành khách, một con thuyền hay một cái cầu cho những kẻ muốn qua sông, một ngọn đèn cho những ai đi trong đêm tối, một cái giường cho những ai muốn nằm nghỉ, một kẻ nô lệ cho những ai cần nô lệ.

19) Tôi nguyện sẽ là viên ngọc phép, một lu thần, một linh chú, một cỏ thuốc, một cây như ý và một con bò ước cho tất cả chúng sinh [2].

20-21) Cũng như quả đất (đại địa) và các đại khác cần thiết cho đời sống của vô số chúng sinh trong khắp hư không, tôi nguyện sẽ là người lợi ích cho tất cả mọi loài cho tới khi nào không còn một ai là kẻ chưa giải thoát.

22-23) Như chư Phật quá khứ đã phát Bồ Ðề Tâm, thực hành Bồ Tát Hạnh, tôi đây cũng xin phát tâm Bồ Ðề làm lợi ích chúng sinh và thực hành hạnh lành mà chư Bồ Tát đã trải qua.

24) Sau khi đã sáng suốt phát Bồ Ðề Tâm, hành giả cần phải nuôi dưỡng, tăng trưởng nó bằng những lời khích lệ sau:

25) Ôi! Từ đây cuộc đời ta đầy ý nghĩa, ta không được bỏ lỡ cơ hội làm người. Ngay ngày hôm nay đây, ta được sinh trong gia đình của chư Phật và làm con trai của Phật.

26) Từ nay trở đi, ta sẽ cư xử, hành động đúng theo truyền thống của gia đình Phật. Nhất định không làm cho gia đình thanh tịnh quý báu này mang danh xấu nhơ vì ta.

27) Như một kẻ mù bắt được ngọc báu trong thùng rác, không biết nhờ phép lạ nào đã khiến cho Bồ Ðề Tâm sinh khởi nơi tôi.

28-31) Nó là một cây thuốc trường sinh khắc trừ sự chết, là một kho tàng vô tận thay thế sự nghèo khổ cho chúng sinh, là một phương thuốc vi diệu chữa trị tất cả bịnh tật thế gian, là một bóng cây mát nghỉ ngơi cho kẻ bộ hành mệt mỏi lang thang trên đường luân hồi, là một cái cầu vĩ đại đưa mọi hành khách thoát khỏi hiểm đạo, là một bóng trăng xoa dịu vết thương ái nhiễm, là một mặt trời tỏ rạng đẩy lui đám sương mù vô minh, là một tô lạc mới làm bằng sữa diệu pháp.

32) Những ai đang lang thang trên nẻo đường luân hồi, khao khát hạnh phúc, thì đây, bữa tiệc hạnh phúc tôi đã dọn sẵn, hãy mau đến dự cho thỏa lòng.

33) Ngày hôm nay, trước sự chứng giám của chư Phật, Bồ Tát, con nguyện đưa hết chúng sinh đến Phật quả. Tất cả chư Thiên, A tu La và mọi loài hãy vui mừng lên!

Chú thích:

[1] Trước khi mãn một tiểu kiếp, sẽ xẩy ra 7 ngày binh đao chiến tranh, 7 tháng bịnh dịch hoành hành và 7 năm hạn hán đói khát

[2] Ngọc phép (cintamani) hay ngọc như ý: khi tâm nghĩ điều gì thì liền có điều đó. Lu thần (bhadragata): khi cần điều gì, chỉ cần thò tay vào lu là lấy được. Linh chú (Siddhavidya): khi đọc câu chú này thì mọi việc đều thành tựu. Cỏ thuốc (mahaushadhi): là một cỏ chữa bá bịnh. Cây như ý (kalpaviksha) và con bò ước (kamadhenu) là bảo vật của chư thiên. Trái cây và sữa bò cho ra tất cả điều ước.

Chương 4

Thực hành Bồ Ðề Tâm

(Bồ Ðề Tâm Hạnh)

1) Sau khi mạnh mẽ phát nguyện Bồ Ðề Tâm, bậc Bồ Tát (con trai của Phật) phải tinh tấn tu tập không được xao lãng.

2) Khi quyết định một việc gì hấp tấp, không suy nghĩ chín chắn, người ta có thể hoặc thi hành hoặc lãng quên, mặc dầu đã phát nguyện.

3) Nhưng làm sao có thể từ bỏ được những gì đã được suy nghĩ, quán chiếu bởi chư Phật, chư hiền giả Bồ Tát và ngay cả ta nữa?

4) Khi đã nguyện, đã hứa mà không làm thì hóa ra ta lừa tất cả chúng sinh! Như vậy số phận ta sẽ ra sao?

5) Ðức Phật dạy rằng: “Ai có ý định cho người một vật gì, dù thật nhỏ không đáng giá, mà cuối cùng không cho thì sẽ đầu thai thành ngạ quỷ”.

6) Vậy thì ta đây, sau khi thành tâm phát nguyện sẽ đem lại cho chúng sinh hạnh phúc tối thượng mà nay lại từ bỏ. Không biết đời sau ta sẽ tái sinh làm gì đây?

7) Tuy vậy, cũng có những người từ bỏ Bồ Ðề Tâm mà vẫn được giải thoát [1]. Song le việc đó chỉ có bậc Nhất Thiết Trí (Phật) mới thấu rõ hoàn toàn nguyên nhân bất khả tư nghì của luật nhân quả mà thôi.

8) Tất cả sự yếu đuối, vi ước của Bồ Tát rất là tai hại. Vì khi phạm lỗi, Bồ Tát sẽ bị quả báo ác không thể tính đếm, vì y đã vô tình làm hại đến tất cả chúng sinh.

9) Và kẻ nào làm chướng ngại, dù chỉ một tích tắc, hạnh lành của Bồ Tát, sẽ bị quả báo ác không thể tính đếm , vì y đã vô tình làm hại đến tất cả chúng sinh.

10) Khi phá hại sự an vui của một chúng sinh, chắc chắn ta sẽ bị quả báo hại lại. Thử hỏi, nếu ta phá hại sự an vui của vô lượng chúng sinh trong hư không vô biên thì hậu quả sẽ ra sao?

11) Kẻ nào có sức mạnh dám phát Bồ Ðề Nguyện, nhưng lại từ bỏ hoặc làm ngược lại Bồ Ðề Hạnh thì kẻ ấy sẽ tiếp tục trôi lăn trong biển sinh tử, không biết bao giờ mới đến được Bồ Tát địa (Bodhisattvabhumi).

12) Như vậy, ta phải thi hành những gì đã hứa, nếu không ta sẽ bị đọa, càng ngày càng sâu.

13) Vô lượng chư Phật đã qua lại làm lợi ích, cứu độ chúng sinh. Nhưng lỗi tại ta đã tạo nghiệp chướng quá sâu dày nên không cảm nhận được sự cứu độ của các ngài.

14) Nếu ngày hôm nay, ta cũng lại tiếp tục làm những việc (xấu) như trước, chắc chắn sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt, bịnh tật, đánh đập, chém giết.

15) Biết đến bao giờ ta mới có lại được những duyên lành hy hữu như: mang thân người, gặp được Phật, có lòng tin, đầy đủ các căn để tu hành?

16) Hiện thời, ta khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, không bị khổ nạn. Nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh phù du: chính cái thân này cũng chỉ là vật vay mượn.

17) Hành động như ta hôm nay, chắc chắn không thể nào tái sinh làm người được. Mà nếu không được thân người thì làm sao có thể tạo hạnh lành được?

18) Ngày hôm nay đầy đủ duyên lành mà không biết tạo công đức thì hỏi làm sao ta có thể tạo công đức khi bị đau khổ hành hạ trong ba đường ác?

19) Nếu không làm lành mà chỉ tạo ác thì trong trăm triệu kiếp ta sẽ không bao giờ nghe được một danh từ tốt như “thân người” khó được.

20) Ðó là lý do vì sao đấng Thiện Thệ đã tuyên bố: “Ðược thân người khó hơn việc con rùa mù gặp được bọng cây trôi giạt trên biển cả”.

21) Phạm tội dù chỉ trong chốc lát cũng đủ đọa địa ngục A Tỳ (Avici) một tiểu kiếp. Thử hỏi khi tội lỗi đã được tạo từ vô thỉ thì làm sao có thể nói đến chuyện tái sinh trong đường lành?

22) Nếu sau khi trả hết tội ở địa ngục mà được giải thoát thì cũng còn may! Nhưng trong lúc đền tội, con người lại tạo thêm nghiệp ác.

23) Không có gì điên cuồng ngu xuẩn bằng, sau khi được thân người, ta lại không biết thừa cơ tạo công đức lành.

24) Hiểu được vậy mà vẫn để cho lười biếng ngự trị thì ta sẽ không kịp ăn năn khi tử thần đến gõ cửa.

25) Và lúc đó thân ta sẽ bị thiêu đốt nhiều kiếp bởi ngọn lửa ác độc của địa ngục, tâm ta sẽ bị ngọn lửa ân hận dày vò.

26) Không biết nhờ phép lạ nào đã khiến ta may mắn được thân người khó được này. Thế mà vừa ý thức được điều đó, ta lại phải trở xuống địa ngục!

27) Ta chẳng khác gì kẻ mất hồn, bị thôi miên bởi tà thuật! Không biết cái gì đã ngự trị trong ta, đã làm ta mất trí?

28) Trời ơi! Những kẻ thù của ta: tham dục, sân hận và phiền não, chúng không có tay, không có chân, không can đảm cũng không có trí huệ. Thế sao ta lại có thể trở thành nô lệ cho chúng?

29) Ngự trị trong tâm ta, chúng tự do hoành hành, phá phách mà ta chẳng hề tức giận. Ôi! Quả là một sự chịu đựng, nhẫn nhục vô lý!

30) Tất cả Trời, Người, A tu La hợp lại cũng không thể lôi kéo ta vào địa ngục được.

31) Nhưng phiền não, ái dục là những kẻ thù không tưởng, lại có thể vứt ta vào địa ngục A Tỳ trong nháy mắt. Trong đó, to lớn như núi Tu Di cũng bị cháy tiêu không còn một hạt tro.

32) Trong số các kẻ thù, không có ai sống dai hơn kẻ thù vô minh, ái dục, vô thỉ vô chung.

33) Một người chủ khi được phục vụ trung thành thường biết bảo vệ tôi tớ của mình. Nhưng ái dục thì ngược lại, luôn luôn đem lại đau khổ cho những ai đã phục vụ nó.

34) Sự ác độc của nó trường kỳ dai dẳng. Nó chính là nguồn gốc của biển khổ và oái ăm thay, nó lại ở ngay trong tâm ta. Như thế làm sao ta có thể an nhiên vui chơi theo lạc thú của đời?

35) Nó là kẻ cai tù, là kẻ hành quyết tội nhân trong địa ngục. Làm sao mơ ước được hạnh phúc khi nó còn ngự trị trong tâm ta?

36-37) Chỉ khi nào nó bị tiêu diệt hoàn toàn dưới mắt ta thì lúc đó ta mới cởi bỏ chiến bào. Những kẻ kiêu ngạo, khi bị mắng chửi, họ liền nổi giận tìm cách trả thù cho đến khi hạ nhục được đối thủ thì họ mới yên tâm đi ngủ. Trên bãi chiến trường, họ có thể đánh đập tàn nhẫn kẻ thù dù kẻ đó đã bị thương gần chết. Họ thản nhiên bắn tên, liệng dao, xem thường sự đau đớn của kẻ thù và họ chỉ quay lưng đi khi kẻ thù đã chết.

38) Như thế thì ta đây, người đã đứng lên quyết thắng kẻ thù ái dục, nguyên nhân của khổ đau, tại sao lại có thể thất vọng, thối lui được?

39) Ðối với những vết thương vô ích gây ra bởi kẻ thù mà người chiến sĩ lại xem đó như một vinh quang thì chẳng lẽ ta đây, quyết làm đại sự, lại lẩn tránh khổ cực sao?

40) Chỉ vì sinh nhai thôi mà những kẻ chài lưới những nông phu, những thợ săn còn chịu đựng được nóng lạnh, đói khát. Chẳng lẽ ta, vì muốn giải thoát chúng sinh, lại không làm được hơn thế sao?

41) Ta đã phát nguyện cứu độ chúng sinh trong mười phương ra khỏi ái dục, phiền não trong khi chính ta chưa tự độ giải thoát!

42) Không biết tự lượng khả năng của mình, ta đã ngạo nghễ phát nguyện một cách vô ý thức. Vậy từ nay ta phải không ngừng chiến đãu, tiêu diệt phiền não của chính mình trước.

43) Sự chiến đãu này sẽ là mục đích duy nhất của đời ta. Như một chiến sĩ căm thù, chỉ còn một say mê, đó là: say mê tiêu diệt tất cả những say mê khác (tức ái dục).

44) Dù có bị chặt đầu, moi ruột, móc gan! Ta cũng không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù muôn đời của ta.

45) Bình thường khi một kẻ địch thua trận, y có thể rút lui ẩn trú một nơi để phục hồi sức lực và sau đó sẽ trở lại. Nhung kẻ thù ái dục thì không thể ẩn náu một nơi nào khác cả!

46) Một khi bị tống khứ ra khỏi tâm ta, thử hỏi nó sẽ ẩn trú nơi đâu để có thể phục thù ta được? Sức lực duy nhất của nó, không gì khác hơn, chính là sự yếu hèn và ngu si của ta. Ái dục chính là một bọn tiểu nhân hèn hạ, chạy trốn khi gặp trí huệ.

47) Ái dục không nằm ngoài cảnh vật, không nằm trong các căn, không nằm ở giữa (cảnh và căn), cũng không nơi nào khác. Vậy nó nằm ở đâu để có thể làm điên đảo tất cả thế gian? Nó chỉ là một ảo ảnh mà thôi. Hỡi tâm ơi! Hãy trở về với Trí Huệ, xa lìa mọi sợ hãi. Tại sao ngươi lại muốn bị đau khổ nơi địa ngục một cách vô lý?

48) Nhất quyết! Từ nay ta sẽ tinh tấn thực hành giới hạnh của Bồ Tát. Vẫn biết thuốc hay có thể chữa lành bịnh, nhưng làm sao hồi phục được sức khỏe nếu không làm đúng theo lời bác sĩ?

Chú thích:

[1] Ý nói các bậc A La Hán ban đầu phát tâm Ðại Thừa nhưng nửa đường thối chí.

Chương 5

Giữ gìn tâm ý

1) Người nào muốn giữ gìn giới hạnh thì trước hết phải biết giữ gìn cẩn thận tâm ý; nếu không giữ gìn được tâm ý thì sẽ không giữ gìn được giới hạnh.

2) Những con voi rừng, khi bị động cỡn, dày xéo phá hoại mọi vật nhưng vẫn chưa bằng con “voi tâm” phóng túng nơi địa ngục.

3) Nhưng nếu cột được con “voi tâm” này bằng sợi dây chánh niệm thì mọi nguy hiểm sẽ tan biến, mọi hanh thông sẽ hiển bày.

4-5) Tất cả sư tử, cọp, voi, gấu, rắn, độc thú, những tên cai tù địa ngục, La Sát, Dạ Xa sẽ bị giam trói nếu chính tâm bị giam trói; hết thảy sẽ được điều phục nếu tâm được điều phục.

6) Bao nhiêu tai nạn, đau khổ, thảy đều phát xuất từ tâm! Bậc Ðạo Sư đã dạy như thế.

7) Ai đã tạo ra những giường sắt nung đỏ, những rừng đao kiếm nơi địa ngục? Và những người đàn bà răng bằng sắt này [1] ở đâu ra?

8) Tất cả đều do cái tâm tội lỗi tạo ra. Ðức Phật đã nói: trên đời này chỉ có tâm tội lỗi là nguy hiểm nhất.

9) Nghe nói Bố Thí Ba La Mật sẽ đem lại giàu sang, thế sao ngày nay loài người vẫn còn nghèo khổ? Chẳng lẽ chư Phật quá khứ đã không thành tựu sự bố thí sao?

10) Bố Thí Ba La Mật là tâm niệm xả bỏ, bố thí cho tất cả chúng sinh những vật sở hữu, và cho (hồi hướng) luôn cả công đức bố thí kia. Như vậy Bố Thí Ba La Mật cũng chính là tâm (niệm) không gì khác.

11) Làm thế nào để tránh khỏi giết hại chúng sinh, đưa họ đến nơi an ổn? Trì giới Ba La Mật chính là tâm niệm từ bỏ lỗi lầm.

12) Chúng sinh ngỗ nghịch, số lượng vô cùng vô tận làm thế nào hàng phục được tất cả? Nếu ta hàng phục được tâm sân hận thì tức khắc sẽ hàng phục được tất cả.

13) Tìm ở đâu được mảnh da lớn có thể bao phủ toàn quả địa cầu? Ngay nơi chiếc dép da này, toàn mặt đất sẽ được bao phủ.

14) Cũng vậy, tuy chưa làm chủ được ngoại cảnh nhưng ta làm chủ được tâm mình: còn gì đáng làm hơn nữa!

15) Dù có phối hợp với khẩu và thân nghiệp đi nữa, cái tâm nặng trĩu (tà kiến) cũng không đạt được cảnh trời Phạm Thiên, trong khi chỉ cần riêng một mình cái tâm thanh tịnh cũng đủ!

16) Dù tụng kinh, ép xác lâu ngày cũng đều vô ích nếu tâm tán loạn, chứa đầy tà kiến.

17) Những kẻ đi tìm hạnh phúc, chạy trốn khổ đau, sẽ tiếp tục lầm đường lạc lối nếu không hiểu được cái tâm kỳ bí năng chứa tất cả các pháp này.

18) Như vậy tâm phải được canh chừng, gìn giữ cẩn thận. Nếu không biết giữ gìn tâm ý thì tu tập những pháp môn khác có nghĩa lý gì?

19) Như một kẻ bị thương, đứng giữa đám khùng cố gắng bảo vệ vết thương không cho bị đụng. Cũng vậy, giữa những người lưu manh, dối trá, ta phải giữ gìn tâm ý mình như bảo vệ vết thương vậy.

20) Thay vì bảo vệ vết thương ngoài da để nó đừng làm đau, tốt hơn ta nên bảo vệ vết thương tâm để nó đừng bị đè nát dưới chân núi địa ngục.

21) Nếu giữ đúng giới hạnh trên, ta sẽ cứng rắn, điềm nhiên giữa những người tội lỗi và nữ sắc.

22) Ta có thể để mất tất cả tài sản, danh dự, mạng sống cùng các công đức, nhưng không bao giờ để mất tâm [2]. Không bao giờ!

23) Hỡi những ai muốn bảo vệ tâm ý. Tôi xin chắp tay khẩn cầu: “Hãy hết sức giữ gìn chánh niệm và tỉnh thức”.

24) Một người bịnh hoạn đau ốm sẽ không có sức để làm bất cứ một việc gì. Cũng vậy nếu tâm si mê, phóng túng thì sẽ không làm được công đức gì cả.

25) Nếu vô ý (không tỉnh thức) thì tất cả công lao, kết quả của sự học hỏi, suy nghĩ, thỉền quán sẽ tan mất như nước chứa trong một bình nứt.

26) Có nhiều người thông thái, trí thức, sùng tín nhưng vì thiếu tỉnh thức nên đã lầm theo tà kiến.

27) Sự thất niệm cũng giống như tên ăn trộm, luôn rình rập thừa lúc ta vô ý, nhảy vào đánh cắp tất cả công đức và khiến ta rơi vào khổ nạn.

28) Ái dục cũng giống như đoàn hải tặc, chuyên tìm cơ hội để đánh cướp. Nếu tìm được, chúng sẽ cướp giật hết căn lành khiến ta không còn hy vọng tái sinh nhàn cảnh.

29) Như vậy, ta sẽ không bao giờ để tâm thất niệm. Nếu thất niệm thì phải nhớ đến cảnh khổ địa ngục mà mau mau đưa tâm trở về chánh niệm.

30) May mắn thay, những ai được ở gần các bậc thầy lành, nhờ biết kính nể và tuân theo lời chỉ dạy nên dễ dàng giữ gìn chánh niệm.

31) “Chư Phật, Bồ Tát có thanh tịnh nhãn nhìn thấu mười phương không chướng ngại, tất cả đều hiển lộ trước mắt các ngài và ta đây cũng luôn ở trước mặt các ngài”.

32) Nhớ nghĩ như vậy, ta sẽ sinh lòng hổ thẹn, kính nể và luôn nhớ tưởng đến chư Phật trong từng sát na.

33) Tỉnh thức, một khi đến sẽ không bỏ đi nữa nếu được chánh niệm giữ gìn ngoài cửa (tâm).

34) Cứ như thế, ta phải giữ gìn tâm ý. Nếu cảm thấy như bị thúc giục bởi một ý niệm bất chánh, ta phải tức khắc đứng yên bất động như một cây khô.

35) Mắt không được ngó đây liếc kia một cách vô ích mà phải nhìn xuống như trong lúc tọa thiền.

36) Nhìn xuống lâu mỏi mắt, ta có thể ngẩng lên nhìn chân trời và lúc đó nếu có người đến gần, ta cũng nên chào hỏi lễ phép.

37) Trong khi đi đường, nếu nghi ngờ tai nạn, ta có thể nhìn bốn phía, nhưng phải đứng lại để nhìn.

38) Sau khi nhìn trước ngó sau, ta có thể tiến tới hoặc thối lui tùy trường hợp.

39) “Ðây là tư thế của thân” hành giả sơ cơ cần phải niệm như vậy trước khi làm một động tác nào. Và trong khi hành động cũng phải kiểm soát tư thế của mình.

40) Hành giả phải canh chừng cẩn mật tâm ý như canh chừng một con voi rừng không cho nó giựt đứt giây xẩy thoát khỏi cột trụ chánh pháp.

41) “Tâm ta ở đâu, đang làm gì?”. Hành giả niệm như vậy và quán sát tâm mình nếu muốn an trụ nơi thiền định.

42) Tuy vậy, gặp trường hợp bất ngờ như tai nạn hoặc trong lúc bố thí, nếu thất niệm thì cũng có thể tha thứ được.

43) Nếu quyết định làm một việc lành nào thì phải để hết tâm thi hành xong việc đó không được nghĩ đến chuyện khác.

44) Như vậy mọi việc sẽ được hoàn tất. Ngược lại thì “xôi hỏng bỏng không” và thất niệm sẽ trở về lấn át.

45) Phải xa lìa các cuộc nói chuyện tầm phào và những cảnh tượng kích thích.

46) Nhớ lời Phật dạy không nên làm điều vô ích, ta sẽ không gạch đường, bới đất, cắt cỏ.

47) Trước khi nói năng hay cử động, ta phải kiểm soát tâm ý đưa nó trở về chánh niệm.

48) Nếu thấy tâm đang ái nhiễm hay sân hận thì ta ngưng mọi nói năng, cử động và đứng yên như một cây khô.

49-50) Khi nào thấy tâm ngã mạn, kiêu ngạo, háo thắng, khoe khoang, tà vạy, ác độc, muốn chỉ trích lừa đảo kẻ khác thì ta hãy đứng yên bất động như một cây khô.

51) Khi tâm muốn tiền của, danh dự, vinh quang, khen ngợi thì ta sẽ đứng yên bất động như một cây gỗ.

52) Khi tâm ích kỷ, không muốn làm lợi ích cho người mà chỉ muốn lợi cho mình thì khi sắp nói, ta sẽ đứng yên bất động như một cây khô.

53) Khi tâm bồn chồn, lo lắng, lười biếng, thích nói chuyện phù phiếm, thiên vị thì ta sẽ đứng yên bất động như một cây khô.

54) Khi nhận thấy tâm mình bị xao động, đang làm mồi cho ý niệm tà kiến thì người dũng sĩ (Bồ Tát) phải giữ chặt giây cương, dùng phương pháp đối trị.

55-56) Cương quyết từ bi, khiêm nhường, lễ phép, thông cảm, bình tĩnh, luôn luôn làm lợi ích cho kẻ khác. Không bao giờ bực tức, nổi giận vì những đòi hỏi vô lý của những kẻ vô tri mà ngược lại, khởi tâm thương xót vì biết họ đang bị vô minh phiền não sai sử.

57) Trong lúc làm lợi ích cho mình và cho người, Bồ Tát luôn thuận theo Chánh pháp, giữ gìn cẩn mật tâm ý, xa kìa mọi ý niệm về “Ta”.

58) Luôn ghi nhớ giờ phút hy hữu có được ngày hôm nay, sau bao kiếp đau khổ, ta sẽ giữ gìn tâm ý vững chắc, bất động như núi Tu Di.

59) Khi bị đám diều hâu thèm thịt, cắn xé, mổ xẻ, sao cái thân (thây) chết kia không biết đau đớn, la hét?

60) Ôi, tâm ơi! Sao ngươi lại lo lắng, cho cái thây đó là ngươi? Là bản ngã (cái ta) của ngươi? Nếu nó không phải là ngươi thì sự còn mất của nó có ăn nhằm gì?

61) Ôi, ngu xuẩn! Tại sao ngươi không lấy một con búp bê bằng gỗ sạch sẽ cho đó là cái Ta (bản ngã) của ngươi mà lại đi săn sóc một cái máy dơ bẩn cấu tạo bằng những thứ bất tịnh?

62-63) Trước hết bằng sự quán tưởng, hãy nhấc bỏ cái lớp vỏ “da” này ra; với trí phân biệt làm con dao, hãy cắt rời từng mảnh thịt ra khỏi xương; tiếp theo chặt từng khúc xương và nhìn vào tủy xem thực chất của nó là gì?

64) Sau khi tìm kiếm kỹ lưỡng, không thấy được thực chất nào. Tại sao ngươi vẫn tiếp tục bảo vệ, ái luyến cái thân?

65) Người ta không ăn được những thứ bất tịnh, không uống được máu mủ. Vậy thử hỏi ngươi làm gì với cái thân?

66-67) A! Phải ngươi gìn giữ nó để sau này làm mồi nuôi chó sói và diều hâu chăng? Thay vì dùng cái thân khốn nạn này vào việc tạo công đức, ngươi lại săn sóc ái luyến nó để cuối cùng tử thần cũng đến giựt của ngươi, vứt cho diều hâu ăn. Ôi, lúc đó ngươi sẽ làm gì?

68) Thông thường, một kẻ đầy tớ khi thôi việc rời khỏi nhà, người ta có cho y quần áo cùng tặng vật không? Cũng thế, cái thân này, sau khi được nuôi dưỡng, chăm sóc, cuối cùng nó sẽ ra đi, tại sao ngươi lại tốn công vì nó?

69) Hãy trả vừa đủ lương cho nó thôi! Và tâm của ta ơi! Hãy lo cho chính ngươi, đừng tốn thì giờ vô ích cho cái thân nữa.

70) Hãy xem cái thân như một chiếc thuyền qua lại. Hãy làm chủ và điều khiển nó theo ý ngươi để đưa chúng sinh đến bờ giải thoát.

71) Bãy giờ làm chủ được cái ta, Bồ Tát trở nên người bạn lành của tất cả mọi người, luôn mỉm cười không còn nhăn mặt chau mày.

72) Không còn bồn chồn, xao động, đập phá bàn ghế, xô cửa ầm ĩ. Bồ Tát an trụ trong yên lặng và khiêm tốn.

73) Con hạc, con mèo và kẻ trộm luôn bước đi nhẹ nhàng yên lặng nên dễ bắt được mồi. Bồ Tát cũng nên tập như vậy.

74) Ðối với các bậc hiền giả khéo dùng phương tiện hướng dẫn làm lợi ích cho chúng sinh, Bồ Tát luôn đảnh lễ kính trọng. Ðối với mọi người, Bồ Tát luôn nhún nhường như một người đệ tử vậy.

75) Nghe ai thuyết giảng chánh pháp, Bồ Tát gật đầu xưng tán. Thấy ai làm việc lành, Bồ Tát liền khen ngợi và tùy hỷ.

76) Bồ Tát luôn khéo léo kể lại hạnh lành của những kẻ khác. Nếu nghe người khen ngợi công đức của mình thì Bồ Tát phải xem đó là lời khen ngợi hạnh lành (chứ không phải khen ngợi mình).

77) Công đức chính là nguồn gốc của an vui hạnh phúc. Tuy vậy, chúng rất hy hữu, dù có nhiều tiền của cũng không thể mua được. Bởi thế nên ta sung sướng tùy hỷ công đức của kẻ khác.

78) Ðược vậy, trong đời này ta không mất mát gì cả mà đời sau lại được sung sướng hạnh phúc. Ngược lại, nếu ganh ghét, đố kỵ thì đời này ta bị hận thù ray rứt và đời sau s? phải chịu nghèo hèn khổ sở.

79) Lời nói của Bồ Tát cần phải rành mạch, rõ ràng, thành thật, dịu dàng, dễ nghe, ẩn chứa từ bi, vắng lặng.

80) Khi gặp một người nào đó, Bồ Tát nhìn thẳng và nghĩ rằng: “Ta phải biết cám ơn kẻ này vì nhờ họ mà ta sẽ được thành Phật”.

81) Thành kính cúng dường chư Phật, vâng lời phụng sự các bậc Thầy, cứu khổ giúp đỡ chúng sinh: đó là những cơ hội cho Bồ Tát tích tụ công đức.

82) Với sự cương quyết, khéo léo, Bồ Tát hành động một mình, không nhờ vả lệ thuộc vào ai.

83) Các hạnh Ba La Mật như bố thí, trì giới, v.v… được xem từ thấp lên cao, từ dễ đến khó. Nhưng Bồ Tát không được xem thường hạnh Bố thí (cho nó là thấp kém) hoặc bất cứ hạnh nào.

84) Sau khi hiểu rõ điều trên, Bồ Tát phải đem hết nghị lực làm việc không ngừng để lợi ích chúng sinh. Nhiều khi Bồ Tát cũng có thể phạm vào giới cấm nếu biết điều đó đem lại lợi ích cho chúng sinh.

85) Bồ Tát sẽ chia xẻ thức ăn của mình cho kẻ đau khổ, cô thế và những tu sĩ khác. Bồ Tát xả bỏ hết, trừ ba y (cà sa).

86) Thân của Bồ Tát chỉ dùng để tu tập chánh pháp nên Bồ Tát không hành hạ, lạm dụng nó vào những việc tầm thường thế gian. Như thế, Bồ Tát sẽ hoàn tất nhanh chóng sự mong ước của chúng sinh.

87) Bồ Tát không được hy sinh thân mạng của mình cho những người lợi dụng, không có lòng từ bi. Bồ Tát chỉ nên hy sinh nó vì lý do chánh đáng (tức giải thoát chúng sinh).

88) Bồ Tát không thuyết pháp cho kẻ bất kính, hoặc kẻ đội mũ, che đầu, cầm dù, cầm gậy, cầm dao.

89) Giáo pháp cao thượng, thâm sâu, không được giảng dạy cho những kẻ thô tục hoặc cho người nữ nếu không có người nam cùng nghe. Bồ Tát kính trọng bằng nhau giáo lý Ðại Thừa và Tiểu Thừa.

90) Nếu thấy người nào có đủ nhân duyên lãnh thọ giáo pháp Ðại Thừa thì Bồ Tát không nên giảng dạy giáo pháp Tiểu Thừa cho người đó. Bồ Tát cũng không được thu hút người khác bằng cách giảng dạy sai lạc Kinh giáo (Sutra) và Mật giáo (Mantra).

91) Bồ Tát không vứt tăm xỉa răng hay khạc nhổ bừa bãi. Tiểu tiện trên dòng nước sạch, trên đất cấy là điều xấu hổ đáng trách.

92) Bồ Tát không ăn đầy miệng, há miệng to, khua húp ra tiếng; không ngồi duỗi chân, đong đưa, cũng không được xoa tay xào xạc.

93) Bồ Tát không du lịch một mình hoặc ngủ lại đêm với người nữ (đã có chồng). Bồ Tát cần học hỏi để giữ gìn, không làm những việc có thể gây tai tiếng.

94) Bồ Tát không ra dấu (hay ra lệnh) bằng một ngón tay, mà bằng cả một bàn tay phải, một cách lịch sự, dù để chỉ đường cũng vậy.

95) Khi cần gọi ai, Bồ Tát không dơ tay xua vẫy, trừ trường hợp gấp rút, mà Bồ Tát chỉ búng tay (đàn chỉ) ra tiếng động. Nếu không Bồ Tát sẽ mất tự chủ (oai nghi).

96) Khi ngủ, Bồ Tát sẽ nằm theo tư thế của Ðức Phật khi nhập Niết Bàn. Luôn chánh niệm, tỉnh thức, sẵn sàng ngồi dậy nhanh chóng (không chờ ai bắt buộc).

97) Hạnh của Bồ Tát rất nhiều, không thể tính đếm. Nhưng có một hạnh tuyệt đối cần giữ gìn đó là luyện tập và thanh lọc tâm ý.

98) Ba lần buổi sáng, ba lần buổi tối, Bồ Tát thực hành (trì tụng) ba điều căn bản (Giới, Ðịnh. Huệ). Nương tựa chư Phật và Bồ Ðề Tâm, Bồ Tát sẽ tẩy sạch mọi tội lỗi cho đến vết cuối cùng.

99) Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù thuận, dù nghịch, Bồ Tát cũng đều nhớ thực hành những giới hạnh trên một cách tương xứng.

100) Vì lợi ích (giải thoát) chúng sinh nên không có hạnh nào mà Bồ Tát không làm. Và như thế, không có hạnh nào mà không đem lại công đức.

101) Bồ Tát làm những hạnh trên chỉ vì lợi ích trực tiếp hay gián tiếp cho chúng sinh; và cũng chỉ vì lợi ích chúng sinh mà Bồ Tát hồi hướng tất cả công hạnh cầu quả Bồ Ðề (Phật).

102) Dù phải xả bỏ thân này đi nữa, Bồ Tát cũng không bao giờ xa lìa thiện tri thức thực hành Bồ Tát Hạnh, thông hiểu giáo nghĩa Ðại Thừa.

103) Bồ Tát phải thành kính tin tưởng bậc thầy dẫn đạo của mình, như phẩm Srisambhavavimoksa đã dạy. Những giới hạnh được trình bày nơi đây và những lời dạy của Phật cần được tìm học trong Kinh tạng.

104) Những giới luật cùng sự hành trì đều được giảng nói trong Kinh, do đó Bồ Tát cần phải đọc (tụng) Kinh, đặc biệt là Kinh Akacagarbhasutra để biết các lỗi nào nên tránh.

105) Thêm nữa, Bồ Tát cần phải đọc Siksasamuccaya vì trong đó kể chi tiết những hạnh của Bồ Tát.

106) Hoặc Bồ Tát nghiên cứu tập Sutrasamuccaya, tóm tắt các hạnh của Bồ Tát và tác phẩm trùng tên của ngài Long Thọ [3].

107) Qua những sách trên, Bồ Tát sẽ biết rõ những gì nên tránh và nên làm. Như thế, Bồ Tát mới có thể hoàn tất chu đáo giới hạnh của mình.

108) Tóm lại, chánh niệm tỉnh thức có nghĩa là quán sát tỉ mỉ, thường xuyên những trạng thái của tâm ý và thân thể.

109) Sau cùng ta phải áp dụng, thực hành những điều trên, vì chỉ đọc tụng và nói suông không thể đem lại lợi ích nào cả. Nếu một bịnh nhân chỉ biết đọc toa thuốc thôi thì y có hết bịnh chăng?

Chú thích:

[1] Ở địa ngục, kẻ phạm tội tà dâm bị bắt buộc leo lên cây Kutacalmali, trên đó có những người đàn bà khổng lồ răng sắt nhọn bám níu cắn xé.

[2] Nghĩa là để tâm phóng túng khởi nghĩ những điều trái với Bồ Tát Hạnh.

[3] Xem phần chú thích ở tiểu sử Tôn Giả Santideva.

Chương 6

Nhẫn nhục

1) Tất cả hạnh lành tích tụ trong nhiều kiếp như bố thí, lễ Phật, v.v.. chỉ cần một giây phút sân hận thôi cũng đủ đốt cháy tiêu tất cả.

2) Không có tội nào tai hại hơn sân hận, cũng không có khổ hạnh nào dũng cảm hơn hạnh nhẫn nhục. Do đó, bằng mọi cách, ta (Bồ Tát) sẽ nuôi dưỡng, tăng trưởng tánh nhẫn nhục.

3) Ta sẽ không bao giờ an ổn hay nếm được mùi vị sung sướng thảnh thơi, không bao giờ được yên ngủ tự tại nếu ngày đó nọc độc sân hận còn nằm ở trong tâm .

4) Dù được dạy dỗ, bảo vệ, nhưng một khi chán ghét, bực tức, người đệ tử có thể mong muốn hủy diệt vị thầy của mình.

5) Nếu ta giống như người đệ tử trên thì anh em, bạn bè sẽ ghê tởm, xa lánh ta. Dù ta có rộng rãi bố thí đi nữa, họ cũng không tin tưởng ta. Tóm lại, sự an vui không thể đến với người sân hận.

6) Kẻ nào, sau khi ý thức được sân hận là nguồn gốc của đau khổ, hăng hái diệt trừ nó, kẻ đó sẽ hưởng sung sướng trong đời này và đời sau.

7) Sự bất mãn hay sợ hãi vì bị lừa dối chính là nhiên liệu của sân hận. Nếu để nó bùng cháy chắc chắn ta sẽ bị hại.

8) Do đó, ta phải tiêu hủy chất nhiên liệu này trước khi nó sát hại ta.

9) Dù có bị vu khống thậm tệ đi nữa, sự an lạc trong tâm ta cũng không lay động. Vì ta biết rằng bất mãn không đem lại an vui mà ngược lại nó sẽ làm tiêu tan công đức.

10) Cần gì phải buồn rầu bất mãn, nếu ta có giải pháp? Và dù không có giải pháp thì bất mãn sẽ đem lại lợi ích gì?

11) Ðau khổ, mạ nhục, chỉ trích, vu oan, tất cả điều đó ta không muốn nó xảy đến với ta và người thân, nhưng ta lại muốn nó xảy đến cho kẻ thù.

12) Sung sướng, dù được cực nhọc tìm kiếm, vẫn mãi không đến. Ðau khổ, dù không ai mời mọc, lại đến thường xuyên. Giải thoát không thể có nếu không đi qua đau khổ. Ôi, tâm (của ta ) ơi, hãy can đảm nhẫn nhục!

13) Ngoại đạo và chúng sinh ở Carnatic sẵn sàng tự thiêu, rọc xé thân mình mà không hy vọng có ngày giải thoát. Trong khi ta đây, vì mục đích giải thoát, há lại hèn nhát sao?

14) Không có gì khó làm cả, nếu biết luyện tập. Như thế, hãy bắt đầu làm quen với sự cực khổ tầm thường, sau này ta sẽ nhẫn chịu được những cực khổ dữ dội hơn.

15) Ruồi, muỗi, đói, khát, nhức, ngứa v.v… Tại sao lại xem thường, bảo chúng là vô ích?

16) Nếu không nhẫn chịu được nóng, lạnh, mưa, gió, nhọc, mệt, hành hung, đấm đá thì làm sao có thể nhẫn chịu được những khổ cực khác?

17-18) Có những người lính khi bị đổ máu, họ lại càng can đảm; lại cũng có người chỉ nhìn thấy máu của kẻ khác cũng đủ té xỉu. Cái đó tùy thuộc ở tâm vững mạnh hay yếu đuối. Bồ Tát phải vượt lên làm chủ, chống lại đau khổ.

19) Ðau khổ không thể lay động sự bình tĩnh của Bồ Tát. Bởi vì không có sự chiến thắng nào mà không có đau khổ, nhất là chiến thắng ái dục.

20) Thắng được kẻ thù bằng cách chiến đấu hiên ngang thì đáng được xem là chiến tướng anh hùng; còn kẻ chiến thắng bằng thủ đoạn chỉ là người “giết thây chết” mà thôi.

21) Ðau khổ nhiều khi cũng đem lại lợi ích: nó dẹp trừ kiêu mạn, khai mở lòng thương người (đau khổ), ghê sợ tội lỗi và tăng trưởng đức tin nơi chư Phật.

22) Ta không thể nào nổi sân với lục phủ, ngũ tạng, dù biết chúng là nguyên nhân của bịnh tật. Như thế sao ta lại nổi sân đối với người khác? Vì họ cũng (vô chủ) bị nhân duyên chi phối.

23) Dù không ai ưa thích nó, nhưng bịnh tật một khi hội đủ nhân duyên thì tự phát sinh. Cũng vậy, vì bị vô minh, tà kiến che lấp nên khi gặp ngoại cảnh nghịch ý thì con người nổi sân lên.

24) Khi nổi sân, con người đâu có nghĩ trước rằng: “Bây giờ ta phải nổi sân!”. Và cơn giận, tự nó cũng đâu có nghĩ rằng: “Bây giờ ta phải xuất hiện”.

25) Như vậy, tất cả lỗi lầm cùng hành động xấu ác đều do nhân và duyên hòa hợp sanh khởi. Không có cái gì có thể phát sinh tự nó được.

26) Khi “nhân” và “duyên” phối hợp với nhau, chúng không cố ý tạo ra một cái gì cả. Và “quả” cũng vậy, nó không bao giờ nghĩ là nó được tạo ra bởi cái gì cả.

27) Cái thường được gán gọi là bản chất đầu tiên hoặc cái được tưởng tượng dưới nhãn hiệu “Ta”, không bao giờ tự phát sinh sau khi suy nghĩ: “Ta sinh”.

28) Vì trước khi được sinh ra. Nó không có (hiện hữu) và như thế làm sao có thể “muốn” sinh ra được? Nếu nó thường có (vĩnh cửu), nó sẽ không bao giờ tách rời khỏi đối tượng của nó và như vậy việc giải thoát không thể có được.

29) Nếu cái Ta (Atman) thường hằng, vô biên như hư không thì đương nhiên nó bất động chuyển. Tự tánh nó như vậy thì dù có xúc chạm với bất cứ vật gì đi nữa, nó cũng không bị chuyển động.

30) Ngay khi xúc chạm sự vật mà nó vẫn như như không khác lúc trước khi xúc chạm, vậy nhân duyên nào lại có thể lay chuyển nó? Nếu bảo tự nó chuyển động thì là cả một sự sai lầm! Một vật làm sao lại có thể có hai tự tánh cùng một lúc được? (vừa bất chuyển động vừa chuyển động) [1].

31) Như vậy tất cả sự vật bắt nguồn từ nhiều nhân, và những nhân này lại tùy thuộc vào nhiều nhân khác nữa. Không có gì độc lập tự hữu cả! Hiểu như thế, làm sao ta có thể nổi sân lên đối với những tên người máy (rô bô) vô chủ cử động như ảo ảnh, huyễn thuật?

32) Nhưng người ta sẽ hỏi rằng: “Nếu các pháp không có thật (như ảo như huyễn) vậy “Ai” sẽ dằn cơn giận? Và nếu như không có “Ai” thì cần gì phải dằn cơn giận?” -Cần chứ! Bởi vì tuy không có “Ai” cả nhưng tiến trình nhân quả vẫn tiếp diễn. Ngăn chặn cơn giận thì sẽ hóa giải được hậu quả đau khổ.

33) Khi một người bạn hay một kẻ thù có những hành động bất hảo với ta, ta hãy nên nhủ lòng: “Ðây là nhân duyên đang hoạt động” và giữ tâm vắng lặng.

34) Nếu tất cả vật phát sinh theo ý muốn con người thì chắc không có ai khổ cả: vì đâu có ai lại muốn đau khổ bao giờ!

35) Bởi si mê, sân hận, ham muốn dục lạc, nữ sắc nên con người cấu xé nhau, đói khát khổ sở.

36) Lại cũng có người vì đó mà tự hại mình như: thắt cổ, gieo mình xuống vực thẳm, uống thuốc độc, ăn uống quá độ, v.v.. Thảy đều là tội lỗi.

37) Chỉ vì nô lệ cho ái dục, con người đâm ra hủy hoại thân thể (quý giá) của mình. Như vậy làm sao bảo vệ được thân thể cho người khác?

38) Với những kẻ điên dại vì ái dục, luôn não hại ta, nếu ta không khởi được lòng từ bi thương xót họ, thì ít nhất ta cũng đừng nên sân hận (với họ).

39) Nếu tự tánh của những kẻ si mê trên là ác độc, chuyên làm khổ người khác thì nổi sân với họ chẳng khác chi nổi sân với ngọn lửa. Ðó là một điều vô lý.

40) Ngược lại, nếu tự tánh của họ hiền lành, ngay thẳng và sự ác độc của họ chỉ là tạm thời chốc lát thì nổi sân với họ cũng vô lý như nổi sân với làn khói trong hư không.

41) Khi bị đánh đập, không ai giận cây gậy cả, mà giận chính người xử dụng cây gậy. Cũng vậy, đối với người sân hận ta, ta không nên giận họ mà hãy nên giận cái tánh sân hận đã thúc đẩy họ.

42) Xưa kia ta não hại người nên nay người não hại ta. Ðó là quả báo đương nhiên.

43) Sự đau khổ của ta có hai nguyên nhân: lưỡi kiếm chém ta và thân ta bị chém. Người kia đã lựa cây kiếm còn ta thì khoác cái thân này. Như vậy còn trách ai?

44) Bởi vô minh che lấp, ta đã bám víu vào thân này, không biết thực tướng của nó chính là một vết thương nặng, chỉ cần đụng nhẹ cũng gây đau đớn. Như vậy, thử hỏi khi nó đau thì giận ai (nếu không phải là giận chính ta)?

45) Ta không thích khổ đau nhưng lại thích (tạo) nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Ôi! Không ai điên rồ hơn ta! Chính vì (tội lội của) ta mà đau khổ phát sinh, tại sao lại đi giận kẻ khác?

46) Chính những hành động của ta đã tạo ra cảnh địa ngục với rừng đao lá kiếm và cũng chính hành động của ta tạo cho ta khổ đau hiện thời. Như vậy ta còn giận ai?

47) Chính những hành động của ta đã khiêu khích kẻ khác (để họ tức giận) và khiến họ đọa địa ngục. Thủ phạm há chẳng phải là ta ư?

48) Nhờ họ mà ta thành tựu được hạnh nhẫn nhục, tẩy trừ nhiều tội lỗi. Nhưng ngược lại, vì ta mà họ phải đọa địa ngục lâu dài.

49) Họ là những ân nhân của ta, trong khi ta lại hành quyết họ. Ôi! Cái tâm (mất dạy của ta) ơi, sao ngươi không biết hổ thẹn mà lại đòi giận tức?

50) Nếu biết hành hạnh nhẫn nhục thì ta sẽ tự cứu được mình không đọa địa ngục. Nhưng những kẻ khác thì sao?

51) Dù ta có trả thù họ đi nữa, không phải vì thế mà họ được cứu rỗi. Ngược lại, sự nghiệp Bồ Tát của ta sẽ đổ gẫy và những kẻ đáng thương kia sẽ bị đọa đày.

52) Tâm của ta vô tướng mạo, không phải bằng vật chất nên không ai có thể đánh đập được nó. Nếu nó bị đau đớn, chẳng qua chỉ vì nó bám víu vào cái thân mà thôi.

53) Những lời mắng chửi, nói xấu, vu oan, v.v.. không ăn nhằm hay tổn thương gì đến thân, thế nhưng tại sao ngươi lại nổi giận hả tâm?

54) Nếu có nhiều người thù ghét ta, sự việc đó đâu có cắn xé được ta trong đời này hay đời sau, tại sao ta lại sợ hãi?

55) Vì sợ mất lợi dưỡng chăng? Dù muốn dù không, lợi dưỡng cũng tan biến sau đời này, trong khi đó nghiệp xấu của ta vẫn tiếp tục mãi đời sau.

56) Thà chết ngay ngày hôm nay còn tốt hơn là sống lâu trong tà kiến. Bởi vì, dù có sống lâu đi nữa cũng không ai thoát khỏi đau đớn của cái chết.

57-58) Một người, trong chiêm bao thấy mình sống sung sướng 100 năm; người khác lại mơ thấy chỉ sung sướng trong một giờ. Cuối cùng cả hai đều thức dậy và khi đó hạnh phúc kia cũng không còn. Cũng vậy, dù cuộc đời có dài hay ngắn, khi cái chết đến thì cũng chấm dứt như nhau.

59) Dù có sống sung sướng, giàu sang, hưởng thọ khoái lạc, cuối cùng ta cũng phải ra đi với hai bàn tay trắng, giống như người bị kẻ cướp bóc lột.

60) Có người bảo: “Nhờ giàu sang ta mới có thể sống lâu để tích tụ công đức, tiêu trừ tội lỗi”. Ðúng vậy, nhưng nếu vì lợi dưỡng mà nổi sân thì đó lại là tích tụ tội lỗi, tiêu mòn công đức.

61) Nếu không có một mục đích lý tưởng cao thượng trong đời thì sống lâu có ích lợi gì? Phải chăng để tạo nghiệp ác?

62) Chắc chắn ta ghét kẻ nói xấu ta, vì như thế họ sẽ làm người khác không tin tưởng ta nữa. Thế sao khi họ nói xấu kẻ khác thì ta lại thản nhiên?

63) Ta thản nhiên được khi kẻ khác bị nói xấu, thế sao ta lại khó chịu trước những lời thật (trái tai) vạch rõ lỗi lầm của ta?

64) Ðối với những người bất kính, đập phá tượng, tháp, kinh sách, ta cũng không nên nổi giận. Bởi vì ngay cả đức Phật và chư thánh tăng cũng đâu có bị (tổn thương) gì!

65) Nếu kẻ nào xử tệ với thầy ta, cha mẹ ta và những người thân ta, ta hãy kềm tâm hãm giận, quán chiếu đó chỉ là kết quả của nhiều nhân duyên.

66) Sự đau khổ của chúng sinh chính là hậu quả của những nguyên nhân cố ý hay vô tình và nó chỉ phát hiện với một chúng hữu tình. Vậy hãy ráng nhẫn chịu tâm ơi!

67) Một kẻ thì tạo ác bởi vô minh, một kẻ thì nổi sân vì si mê. Vậy ai đúng ai sai?

68) Xưa kia ta đã tạo hành động gì để ngày nay khiến người khác làm ta đau khổ? Tất cả đều là kết quả nghiệp quá khứ, làm sao trách cứ được ai?

69) Hiểu như vậy, ta sẽ cố gắng tạo nghiệp lành, cầu cho tất cả chúng sinh có được ý niệm thương yêu lẫn nhau.

70) Khi có một căn nhà bị cháy, người ta sẽ chạy sang nhà bên cạnh, lôi vứt tất cả rơm cỏ khô và những đồ dễ bắt lửa.

71) Cũng vậy, tất cả ý niệm nào có thể kích thích ngọn lửa sân hận đều phải được loại trừ tức khắc, nếu không chẳng mấy chốc cái kho công đức của ta sẽ bị cháy rụi.

72) Làm sao một tên tử tội lại có thể than vãn khi bị chặt tay rồi được thả, thay vì phải bị chém đầu? Làm sao ta lại không nhẫn chịu được đau khổ tạm thời nếu biết nhờ đó ta sẽ tránh khỏi cái khổ địa ngục?

73) Nếu ngày hôm nay không nhẫn chịu được một chút đau khổ của thế gian thì sao ta không biết ngăn chặn sân hận, vì nó là nguyên nhân dẫn đến đau khổ địa ngục?

74) Chỉ vì giận tức, sân hận mà ta đã bị thiêu đốt ngàn lần dưới địa ngục một cách ngu xuẩn không lợi ích gì cho ta và cho người.

75) Trong khi đó, nếu so sánh thì cái khổ hiện đời quả thật ít ỏi và hơn nữa nó có thể đem lại lợi ích. Như vậy ta phải hoan hỷ nhẫn chịu cái khổ nhỏ để giải trừ cái khổ lớn cho tất cả chúng sinh.

76) Có những người chuyên môn khen ngợi tán thán công đức của kẻ khác. Tâm (của ta) ơi, tại sao ngươi không biết hoan hỷ tham gia?

77) Ðó là một niềm vui tuyệt hảo, không thể chê trách, thường được các bậc thánh nhân ca ngợi. Và đó cũng là một phương tiện tối thắng để thâu phục kẻ khác.

78) Người ta thường sung sướng khi được khen ngợi. Nhưng nếu ngươi không chấp nhận điều đó (vì ganh tỵ) thì ngươi sẽ gặt hái hậu quả đời này và đời sau.

79) Nếu có kẻ nào xưng tán ngươi thì ngươi muốn những người khác cùng tham dự. Nhưng nếu người ta xưng tán kẻ khác thì ngươi lại không thích tham dự.

80) Ta đã phát tâm Bồ Ðề, nguyện làm cho tất cả chúng sinh được an vui. Tại sao lại khó chịu khi thấy người khác tìm được an vui?

81) Ta muốn chúng sinh đều chứng Phật quả, được ba cõi xưng tán thì sao ta lại buồn rầu khó chịu khi họ chỉ được vài người khen ngợi?

82) Ðối với cha mẹ, người thân, ta chưa kịp chăm sóc, cung phụng mà họ vẫn an ổn. Ðáng lý ta phải vui mừng chứ sao lại khó chịu?

83) Làm sao giải thoát được chúng sinh nếu không biết cầu cho họ được an vui toại ý? Làm sao tâm Bồ Ðề có thể khởi lên được với người chuyên ganh tỵ khi thấy kẻ khác giàu sang?

84) Nếu một khất sĩ không nhận được của cúng dường thì của đó vẫn nằm trong nhà thí chủ, đâu ăn nhằm gì đến ta. Vì dù khất sĩ đó có được cúng dường hay không, của đó vẫn không về phần ta kia mà!

85) Tại sao ngươi lại muốn khất sĩ kia xa lìa phước báo, từ chối sự cúng dường của đàn na thí chủ? Ôi! Bao giờ ngươi mới ngưng những ý niệm xấu xa hả tâm?

86) Ngươi không biết hối hận việc ác đã làm mà lại ganh tỵ với những người đạo hạnh.

87-88) Nếu chẳng may kẻ thù ngươi gặp nạn, có gì đâu mà ngươi lại vui mừng? Ðâu phải sự ước mong của ngươi đã làm thay đổi luật nhân quả. Dù hắn có bị đau khổ như ngươi muốn thì việc đó đem lại ích lợi gì cho ngươi? Nếu ngươi nói: “Ta hài lòng vì hắn đau khổ!” thì không có gì tai hại hơn cho ngươi sau này.

89) Sự ganh tỵ là miếng mồi câu nguy hiểm của ái dục. Chúng sẽ bán ngươi cho những tên quỷ sứ địa ngục nấu chín ngươi trong nồi đồng sôi.

90) Danh vọng, vinh quang, thảy không tạo thêm công đức, không kéo dài mạng sống, không tăng thêm sức mạnh cũng không chữa lành bịnh tật.

91) Nhưng chúng là những thứ mà “người thông minh ở đời” thường hay tìm kiếm. Cờ bạc, rượu chè, nữ sắc, đó là những thứ ưa thích của người đam mê nhục dục.

92) Danh vọng! Chỉ vì hai chử này mà con người sẵn sàng hy sinh mạng sống, của cải. Hai chử “danh vọng” này có ăn được không? Một khi chết rồi, ai sẽ nếm được sung sướng (của danh vọng)?

93) Khi tòa nhà bằng cát của nó bị sụp đổ, đứa trẻ nít sẽ hét lên đau đớn. Cũng thế, khi danh vọng, vinh quang của ta bị sụp đổ, tâm ta chẳng khác gì đứa trẻ nít kia.

94) Lời khen chỉ là tiếng vang, một âm thanh vô tình, làm sao lại nói là nó khen ta? Nhưng ta sẽ bảo là người đó hài lòng vì ta nên ta vui mừng.

95) Nếu thế, lời khen đó về ta hay về người khác thì ta được ích lợi gì? Duy chỉ có người khen mới cảm nhận sự vui sướng thôi.

96) Nếu bảo là vui mừng khi thấy người kia sung sướng thì trong bất cứ trường hợp nào ta cũng phải vui mừng chứ! Vậy sao lúc nguời kia vui mừng khen ngợi kẻ khác thì ta lại không vui mừng?

97) A! thì ra cuối cùng ta vui mừng chỉ vì họ khen “Ta”. Tư cách đó chẳng khác gì một đứa trẻ nít.

98) Lời khen vừa làm động tâm, vừa làm e ngại kẻ yếu đuối; nó khiến ta ganh tỵ với người đức hạnh và như thế công đức của ta sẽ tiêu mòn.

99) Do đó những ai phá hoại danh dự của ta, kẻ đó đang giúp ta thoát khỏi cái đọa địa ngục.

100) Tiền của, danh dự là những dây xích trói buộc, ngăn cản ý chí giải thoát của ta. Như vậy, sao ta ghét bỏ những người đến tháo gỡ xiềng xích cho ta?

101) Nhờ ơn chư Phật xui khiến, những kẻ não hại ta thật ra họ là những cánh cửa chắn đóng trước mặt để ta không rơi vào đường ác. Như vậy sao ta lại ghét bỏ họ?

102) “Nhưng nếu có người ngăn ch?n không cho ta làm việc công đức thì sao?”. Ðối với người đó cũng vậy, ta không được nổi giận. Vì không có sức mạnh nào mãnh liệt hơn sự nhẫn nhục, và kẻ đó đang cho ta cơ hội tốt (để tu tập).

103) Nếu không nhẫn nhục được thì đó là lỗi tại ta. Chính ta đã ngăn chặn việc công đức của mình.

104) Nếu không có cái này thì cái kia cũng không có. Nếu cái này có thì cái kia là nguyên nhân. Như vậy kẻ nào não hại ta chính là nguyên nhân của nhẫn nhục, tại sao lại bảo họ là chướng ngại?

105) Kẻ ăn xin xuất hiện đúng lúc đâu phải là chướng ngại cho sự bố thí? Vị thầy truyền giới đâu phải là chướng ngại cho người muốn đi tu?

106) Kẻ ăn xin đầy dẫy khắp nơi nhưng ít có ai não hại người. Nếu không hại người thì lấy đâu bị người hại.

107) Một kẻ thù không gọi mà tự đến cũng giống như một kho tàng tự nhiên xuất hiện trong nhà của ta vậy. Họ là trợ duyên quý giá cho sự tu tập giác ngộ.

108) Nếu nhờ họ mà ta thực hành nhẫn nhục được thì phải biết mang ơn họ. Có họ nên mới có sự nhẫn nhục của ta.

109) “Nhưng kẻ thù kia đâu có ý tập cho ta tăng trưởng hạnh nhẫn nhục, cần gì phải mang ơn y?”. Nếu nói vậy thì sao ta lại biết ơn giáo pháp, vì giáo pháp cũng đâu có cố ý khiến ta tu hành?

110) “Nhưng hắn cố ý hại ta nên ta không thể biết ơn hắn được!”. Như vậy làm sao tu tập nhẫn nhục được? Chẳng lẽ tập nhẫn nhục với những người tốt với ta ư? Với người bác sĩ hết lòng chữa bịnh cho ta chăng?

111) Sự thù nghịch chính là nhân duyên của nhẫn nhục. Do đó. Ta phải biết ơn kẻ thù cũng như biết ơn Phật Pháp vậy.

112) Ðức Phật đã nói: “Tất cả chúng sinh đều là ruộng phước chẳng khác ruộng phước của chư Phật”. Bởi nhờ phục vụ chúng sinh mà rất nhiều người đã đến được bờ bên kia (giải thoát).

113) Chính nhờ chúng sinh và nhờ chư Phật mà ta thành tựu được Phật hạnh. Sao ta chỉ biết ơn chư Phật mà không biết ơn chúng sinh?

114) Vẫn biết chủ ý của chư Phật không giống của chúng sinh,nhưng kết quả cho ra giống nhau. Do đó ta phải xem chúng sinh quan trọng không kém chư Phật.

115) Chúng sinh vô lượng nên ta mới có thể tích tụ vô lượng công đức. Công đức của chư Phật vô lượng nên tin tưởng chư Phật cũng giúp ta tích tụ vô lượng công đức.

116) Tất cả chúng sinh chẳng khác chư Phật, đó là vì nhờ họ mà ta có thể chứng được Phật quả. Nhưng thực tế thì không một chúng sinh nào có thể so sánh được với Phật (biển công đức vô tận).

117) Tuy vậy trong mỗi chúng sinh đều có một phần nhỏ tinh ba của chư Phật (tức Phật tánh). Và như vậy, cả ba cõi hợp lại cũng không đủ để xưng tán.

118) Nhờ Phật tánh mà chúng sinh có thể thành tựu Phật quả. Ta xưng tán chúng sinh cũng có nghĩa là xưng tán Phật tánh vậy.

119) Thêm nữa, làm thế nào để đền ơn chư Phật, là những thiện tri thức, Ðại ân nhân của chúng ta? Không có cách nào khác hơn là cứu giúp và làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.

120) Chỉ vì chúng sinh mà các ngài đã xả bỏ thân mạng, tự nguyện xuống địa ngục. Do đó những gì ta làm cho chúng sinh cũng tức là làm cho các ngài vậy.

121) Trong khi các ngài hết lòng vì chúng sinh, xem như con một, thì sao ta lại có thể đối xử kiêu ngạo với các con của ngài, thay vì phải khiêm tốn như một kẻ hầu?

122) Chư Phật hoan hỷ khi thấy chúng sinh sung sướng, buồn rầu khi chúng sinh đau khổ, hài lòng khi chúng sinh an vui. Như thế, não hại chúng sinh cũng tức là não hại chư Phật vậy.

123) Khi thân thể bị lửa nóng bao vây, làm sao nói đến sung sướng được? Cũng vậy, khi thấy chúng sinh đau khổ, những bậc Ðại Từ Bi làm sao yên vui được?

124) Trong khi làm chúng sinh đau khổ, ta đã vô tình làm buồn đấng Ðại Từ Bi. Ngày hôm nay ta thành tâm sám hối tội lỗi, cầu xin chư Phật tha thứ.

125) Kể từ giờ phút này, để làm vui lòng chư Phật, ta sẽ phục vụ tất cả chúng sinh, dù họ có đánh đập hay chà đạp ta.

126) Các Ðấng Ðại Từ Bi, đối với chúng sinh xem như mình không khác. Nhìn thấy được Phật tánh nơi chúng sinh cũng như nhìn thấy Phật không khác. Như vậy, sao ta lại có thể không kính trọng chúng sinh?

127) Phục vụ chúng sinh tức là làm vui lòng chư Phật, thành tựu được mục đích tối thượng của ta (giải thoát) và tiêu trừ đau khổ cho thế gian. Ðó là lời nguyện mà ta phải luôn nhớ thực hành.

128-130) Một người thân vua, dù có đối xử thậm tệ với dân chúng, nhưng vì nhìn xa nên không ai dám chống cự. Bởi vì tuy hắn một mình nhưng sau lưng hắn có thế lực của vua. Cũng vậy, ta không nên chống cự hay trả thù một chúng sinh, bởi vì sau lưng y có thế lực của quỷ sứ giữ ngục và của chư Phật nữa. Do đó ta phải khép phục chúng sinh cũng như một cận thần phục vụ cho ông vua khó tính vậy.

131-132) Sự trừng phạt của một ông vua nổi giận có đủ để so sánh với sự trừng phạt của địa ngục, kết quả của sự não hại chúng sinh không? Sự ban ơn của một ông vua có thể so sánh được với Phật quả, thành tựu khi tùy thuận tất cả chúng sinh không?

133-134) Chẳng cần nói đến Phật quả chứng đạt trong tương lai, sau khi tùy thuận vô lượng chúng sinh, mà ngay trong cuộc luân hồi này, sự nhẫn nhục cũng đem lại nhiều lợi lạc: hạnh phúc, danh dự, trường thọ và vô số niềm vui của bậc Ðế Vương.

Chú thích:

[1] Từ câu 27 đến 30, tôn giả bác 2 phái Số Luận (Samkhya) và Phệ Ðà (Vedanta).

Chương 7

Tinh tấn

1) Sau khi có được nhẫn nhục, hành giả phải trau giồi sức tinh tấn, bởi vì quả Bồ Ðề thành hay không là tùy ở tinh tấn. Không có tinh tấn thì không có công đức nào thành tựu, cũng như không có gió thì không có sự di động nào cả.

2) Thế nào là tinh tấn? Ðó là siêng năng làm các hạnh lành. Ngược lại của tinh tấn là gì? Là lười biếng, chán nản, thích tạo ác và không tin tưởng chính mình.

3) Ưa thích khoái lạc, ngủ nghỉ, hay trông cậy kẻ khác, không ý thức được đau khổ của luân hồi, đều là nguyên nhân của giải đãi, lười biếng.

4) Vô minh, tà kiến đã đưa đẩy làm ta trôi lăn trong sinh tử. Thế mà ta vẫn chưa ý thức được là mình đang sống trong miệng của tử thần!

5) Há ta không thấy những người đồng loại luân phiên nhau tắt thở sao ? Thế mà ta vẫn thờ ơ, lười biếng, chẳng khác con bò sắp sửa bị làm thịt mà không hay!

6) Tử thần luôn theo dõi rình rập ta, ngăn chặn mọi lối thoát. Thế mà ta vẫn say sưa ăn uống, ngủ nghỉ, yêu đương!

7) “Ðợi khi nào gần chết, tôi sẽ tích tụ công đức!” Nhưng đến lúc đó, dù có vùng vẫy khỏi lười biếng thì cũng quá muộn rồi!

8) “Việc này chưa làm, việc kia mới làm, việc này mới xong phân nửa”, rồi bất thình lình cái chết đến, ta than rằng: “Thôi, chết tôi rồi !”.

9) Khi cha mẹ, thân nhân hoàn toàn thất vọng, buồn bã vây quanh ta với những cặp mắt đỏ lệ, than khóc thì cùng lúc đó ta cũng thấy luôn các sứ giả của tử thần.

10) Dằn vặt nhớ lại những tội đã làm, tai thoảng nghe thấy tiếng địa ngục, bản thân ô uế vì nghiệp xấu, lúc đó ta sẽ làm gì ?

11) “Ôi ta chẳng khác gì cá trong rổ”. Nghĩ vậy cũng đủ làm ta (kẻ tạo tội) sợ hãi ngay trong đời này, nói chi đến cảnh tra tấn địa ngục.

12) Mới đụng một chút nước nóng mà ta đã vội kêu đau, trong khi tương lai sẽ bị lửa địa ngục thiêu đốt mà ta lại có thể nhởn nhơ vui đùa được ư ?

13) Ta lười biếng mà lại muốn có phần thưởng; yếu ớt (sợ đau) mà lại thích tạo đau khổ; bị thần chết xích cổ mà lại tưởng mình trường sinh. Than ôi ! Làm sao cứu vãn?

14) Ngươi may gặp được chiếc thuyền lớn (tức thân người), hãy mau qua khỏi biển khổ ! Ôi, kẻ si, bây giờ không phải là lúc ngủ ! Chiếc thuyền này không dễ gì gặp được lần sau.

15) Ðối với giáo pháp cao thượng, nguồn gốc của hạnh phúc vô biên, sao ngươi lại thờ ơ, chạy theo lạc thú phù du, quên rằng đó là nguyên nhân dẫn đến đau khổ ?

16) Biết tự chủ, can đảm, bình đẳng xem mình và người như nhau, xả bỏ ích kỷ để làm lợi ích cho người, đó là những điều kiện của tinh tấn.

17-18) Không nên nản chí nghĩ rằng: “Làm sao ta có thể chứng quả Bồ Ðề ?”. Bởi vì đấng Như Lai, không vọng ngữ đã nói rằng: “Nhờ sức tinh tấn, những chúng sinh năm xưa đã làm ruồi, muỗi, ong, trùng, đều đã thành tựu quả Bồ Ðề (rất khó được)”.

19) Trong khi ta đây, may mắn được sinh làm người, biết phân biệt phải trái, nếu làm đúng theo hạnh sống của chư Bồ Tát, chẳng lẽ không chứng được quả Bồ Ðề hay sao ?

20) Thế mà ta lại run sợ khi nghĩ đến phải hy sinh bố thí tay, chân và các căn. Ðó là ta đã lầm lẫn (thiếu suy xét), không biết cái gì quan trọng và cái gì vô nghĩa.

21-22) Cái quan trọng là ta đã bị chặt, cưa, đốt sống trong vô lượng kiếp mà vẫn không đắc quả Bồ Ðề. Cái vô nghĩa là sự đau khổ nhỏ nhoi nhưng sẽ cho ra quả Bồ Ðề, tương tự như lấy dao khoét vết thương độc, tuy đau nhưng sẽ lành bịnh.

23) Ðể chữa bịnh, các y sĩ nhiều khi cũng cần mổ xẻ đau đớn. Thà đau một chút nhưng khỏi bịnh còn hơn là để bịnh nặng sau này.

24) Tuy vậy người y sĩ giỏi sẽ không cần dùng đến mổ xẻ. Bằng những phương thuốc dịu ngọt, ông ta có thể chữa lành bịnh nặng.

25) Ban đầu, bậc Y Vương sẽ dạy đệ tử bố thí đồ ăn, thức uống, sau khi thuần thục, sẽ dạy đến bố thí da thịt, thân thể.

26) Khi tâm được huấn luyện đến mức xem thân thể chẳng khác cỏ cây thì bố thí xương thịt có khó gì ?

27) Lúc đó bậc hiền giả thoát ly mọi đau khổ của thân và tâm. Bởi vì tâm khổ là do tà kiến, thân khổ do nghiệp xấu.

28) Thân an vui nhờ tạo công đức, tâm thanh tịnh nhờ trí huệ. Tuy vẫn ở trong luân hồi, vì thương chúng sinh, nhưng còn gì làm đau khổ được Bồ Tát ?

29) Tẩy trừ tội lỗi xưa, tích tụ công đức hải, nhờ sức Bồ Ðề Tâm, Bồ Tát vượt hẳn hàng Thanh Văn.

30) Nhờ cưỡi xe Bồ Ðề Tâm, không chút cản trở mệt nhọc, Bồ Tát đi từ hạnh phúc này đến hạnh phúc khác. Như vậy làm sao có thể nản chí được ?

31) Muốn thực hiện giải thoát chúng sinh, cần phải có bốn đội quân: ước nguyện, quyết chí, hoan hỷ và xả bỏ. Nhờ sợ hãi khổ đau nhớ tưởng đến an vui mà ước nguyện được tăng trưởng.

32) Muốn tăng trưởng sức tinh tấn, ta phải loại trừ những chướng ngại đối lập. Muốn có bốn đội quân trên, ta phải biết tự chủ và tu tập đúng đắn.

33) Ta phải tiêu trừ vô lượng tật xấu của mình và người; trong công việc này, tiêu diệt một tật xấu nhỏ thôi cũng đòi hỏi nhiều kiếp hải.

34) Trong khi đó ta chưa có được một chút nguyên tử tinh tấn nào. Trước những đau khổ vô biên, không hiểu (may sao) tim ta chưa bị nổ tung ?

35) Thêm nữa, ta phải góp nhặt vô lượng hạnh lành cho ta và cho người; thành tựu được một hạnh lành cũng phải trải qua nhiều biển kiếp.

36) Thế mà ta vẫn chưa làm được một hạnh nhỏ nào. Thật là uổng phí cho kiếp được sinh làm người.

37) Ta không biết hoan hỷ xưng tán cúng dường chư Phật, không biết hoằng truyền chánh pháp, không biết cứu giúp kẻ nghèo khó.

38) Không biết bảo vệ kẻ gặp nạn, không đem lại an vui cho người cô thế. Ta chỉ làm mẹ ta đau đớn khi có thai, chẳng khác mang một lưỡi gươm trong bụng.

39) Vì không biết hướng về Phật pháp trong quá khứ nên ngày nay ta phải chịu thiệt thòi. Hiểu như vậy, lẽ đâu lại thờ ơ với Phật pháp ?

40) Ðức Phật đã nói, (lòng thành) phát nguyện chính là cội nguồn của tất cả công đức. Phát nguyện được xuất phát từ sự quán chiếu thường xuyên về luật nhân quả.

41) Những đau khổ vật chất, tinh thần, những tai nạn hiểm nguy, chia ly với những gì thân yêu: đó là hậu quả của sự sống trong tà kiến.

42) Nhờ tạo nhiều hạnh lành, thúc đẩy bởi tâm nguyện chân chín, bất cứ lúc nào, ta cũng nhận được phần thưởng xứng đáng.

43) Nhưng nếu tạo ác thì dù có ước muốn hạnh phúc đi nữa, bất cứ nơi nào bước chân đến, ta cũng phải chịu khổ đau vì đó là hậu quả đương nhiên.

44) Hóa sanh trong những bông sen thơm ngát, thân thể óng ánh hào quang [1] được nuôi lớn dần bằng diệu âm chánh pháp, các hàng Bồ Tát nhờ tạo nhiều căn lành, sẽ xuất hiện với sắc thân thù thắng khi những cánh sen nở xòe dưới hào quang của đức Phật.

45) Ðau đớn la hét vì bị những tên cai ngục của Yama (Diêm Vương) lóc xương, cổ họng uống nước đồng sôi, da thịt bị băm chém bằng hàng trăm mũi dao nung đỏ. Cứ như thế, kẻ tạo ác không ngừng bị đọa đày trong địa ngục cháy bỏng.

46) Như vậy, chúng ta hãy phát nguyện tạo hạnh lành. Sau khi lập nguyện vững chắc, chúng ta phải trau giồi tin tưởng quyết chí, ứng hợp với Kinh Vajradhvajasutra.

47) Trước khi làm một việc gì, cần phải suy xét xem việc đó có đáng làm và ta có đủ sức hay không? Nếu thấy không đủ khả năng thì tốt hơn đừng làm, không nên làm mà bỏ dở nửa chừng.

48) Nếu bỏ nửa chừng, ta sẽ phải bắt đầu lại trong những đời sau và như thế vô tình gây thêm trở ngại, lầm lỗi. Làm việc này, bỏ dở việc kia, mất thì giờ mà cuối cùng không xong việc nào cả.

49) Sự cương quyết tự tin cần được áp dụng vào ba điều: hành động, phiền não, năng lực. “Ta sẽ làm một mình !” đó là tự tin trong hành động.

50) Vì nô lệ cho phiền não nên chúng sinh không thể tự tìm an vui giải thoát. Do đó, chính ta sẽ làm giúp họ, vì ta không bất lực như chúng sinh.

51) Thấy kẻ khác làm việc nặng nhọc (mà ta cho là) thấp kém, sao ta lại nỡ khoanh tay ngồi yên ? Phải chăng ta cho mình quan trọng hơn kẻ khác ? Nếu vậy, tốt hơn là ta nên dẹp cái tánh ngã mạn kia đi.

52) Khi tấn công được một con thằn lằn sắp chết, con quạ kia lầm tưởng nó là chim đại bàng. Cũng vậy, nếu tâm yếu hèn thì một sự cám dỗ nhỏ cũng đủ làm ta té nhào.

53) Tại sao lại hèn nhát từ chối, không dám dấn thân trên con đường giải thoát ? Không có một trở ngại nào có thể ngăn cản được sức tinh tấn.

54) Với tâm quyết chí, tự tin ta sẽ vượt qua tất cả cạm bẫy (của cám dỗ). Bởi vì, nếu té nhào dù chỉ một lần thôi, thì lời nguyện siêu việt ba cõi hóa ra chuyện nói đùa !

55) Ta sẽ chiến thắng tất cả, không bao giờ chịu thua bất cứ cái gì. Ðây là niềm tự tin cần được tăng trưởng, bởi vì ta là con trai của Phật, bậc chiến thắng, Sư Tử Vương.

56) Những kẻ kiêu ngạo thật ra rất yếu hèn vì họ đã bị tánh tự kiêu (ngã mạn) chinh phục rồi. Những kẻ thực sự tự tin thì không bao giờ chịu khuất phục kẻ thù. Kẻ thù ở đây chính là tánh kiêu mạn.

57-58) Tánh kiêu mạn sẽ đưa đến đọa đày, khổ sở. Dù được thân người đi nữa cũng không được an vui, phải làm nô lệ, ngu si, xấu xí, vừa ăn cơm thừa lại bị hất hủi khinh chê. Ðó là số phận của những kẻ kiêu mạn ! Thế còn người hạ mình khiêm tốn thì sao ?

59) Ðó là những anh hùng tự tin, chỉ hãnh diện khi nào thắng được kẻ thù “kiêu mạn”. Sau khi tiêu diệt được kiêu mạn, kẻ thù đáng sợ nhất, họ sẽ tùy ý tuyên bố với thế gian kết quả chiến thắng của họ [2].

60) Dù bị phiền não, ái dục bao vây ngàn cách, ta cũng vẫn là kẻ vô địch, như sư tử đứng giữa bầy chồn.

61) Bồ Tát không bao giờ chịu để cho phiền não chinh phục. Dù có gặp nguy hiểm cấp bách, Bồ Tát cũng quyết tự bảo vệ như người bảo vệ cặp mắt mình trong cơn bão cát.

62) Khi quyết định làm việc gì, Bồ Tát làm hăng say hết mình với tâm hoan hỷ, giống như người đánh bài nhất quyết ăn thua.

63) Giống như người thở phào nhẹ nhõm sau khi làm xong bản tường trình, Bồ Tát luôn luôn thích thú làm hạnh lành, không bao giờ thấy đủ, vì Bồ Tát tìm thấy an vui ngay trong công việc làm.

64) Thông thường người làm việc cốt để tìnm hạnh phúc, nhưng chưa chắc đã tìm được. Nhưng đối với người mà làm việc chính là hạnh phúc thì thử hỏi sao họ không ham làm việc cho được ?

65) Lạc thú trần gian, nguy hiểm như mật trên lưỡi dao mà con người lại cho là không bao giờ được thỏa mãn đầy đủ; trong khi đó đối với việc công đức (tương lai sẽ cho ra quả an vui) thì lại cho là đã góp nhặt đầy đủ. Ôi, thật ngược đời !

66) Do đó, khi xong một hạnh lành, Bồ Tát tức khắc xả bỏ quay sang việc khác, cũng như con voi, dưới sức nóng của mặt trời đứng bóng, vội vàng nhảy vào hồ nước mát.

67) Khi kiệt sức, Bồ Tát tạm ngưng để có thể tiếp tục về sau. Và khi công việc được hoàn tất, Bồ Tát liền bỏ qua một bên, sẵn sàng đón nhận việc khác.

68) Bồ Tát luôn canh chừng cẩn mật sự tấn công của phiền não để có thể phản công hữu hiệu, chẳng khác một hiệp sĩ đãu kiếm với địch thủ tài ba.

69) Trong trận, nếu bị kiếm rơi, hiệp sĩ phải nhanh tay nhặt lại (vì sợ nguy hiểm). Cũng thế, nếu Bồ Tát làm rơi kiếm chánh niệm thì phải nhặt lại tức khắc (vì nghĩ đến địa ngục).

70) Thuốc độc, một khi vào máu sẽ tràn khắp thân thể. Cũng thế, phiền não một khi gặp tà kiến sẽ tràn khắp trong tâm.

71) Người hành Bồ Tát đạo phải hết sức chú ý cũng như kẻ cầm bát dầu đầy đi vào đám đông, theo sau là những tên đao phủ sẵn sàng chém đầu nếu người kia làm đổ dầu, dù chỉ một giọt.

72) Như người thấy rắn rơi vào mình , vội vã đứng dậy hất bỏ, Bồ Tát cũng phải tức khắc phản ứng như thế đối với hôn trầm, uể oải.

73) Mỗi lần vấp ngã, Bồ Tát tự trách mình và quán chiếu sâu xa để lần sau không tái phạm.

74) Vì lý do này nên Bồ Tát luôn tìm cầu, thân cận người hiền, thiện tri thức để học hỏi cách thức tu tập giữ gìn tâm ý trong nhiều trường hợp khác nhau.

75) Ðể củng cố sức tinh tấn, trước khi làm bất cứ việc gì, Bồ Tát luôn nhớ đến phẩm “Không phóng dật” [3] và nhờ đó hành động được an vui, tự tin.

76) Cũng như bông giấy, bay đến bay đi thuận theo làn gió thổi, Bồ Tát làm tất cả hạnh thuận theo chánh niệm tinh tấn.

Chú thích:

[1] Ðây là cảnh hóa sanh ở Cực Lạc (Bdé.ba.chen, Sukhavati) của Phật A Di Ðà.

[2] Tức thành Phật và chuyển Pháp Luân.

[3] Chương II (Appamadavagga) của Kinh Pháp Cú

Chương 8

Thiền định

1) Sau khi tăng trưởng sức tinh tấn, Bồ Tát phải tu tập Thiền Ðịnh, tập trung tâm ý. Người mà tâm buông lung sẽ rơi vào tà kiến, phiền não.

2) Sống cô đơn, ẩn dật sẽ giúp hành giả loại trừ mọi sự phóng dật. Do đó Bồ Tát cần từ bỏ việc đời, không bận tâm lo lắng.

3) Nếu không từ bỏ được việc đời, đó là tại ái nhiễm (người thân) và tham lam vật chất. Ta phải từ bỏ tất cả, noi theo gương của các bậc hiền giả.

4) Hiểu được chỉ có trí huệ (quán chiếu) phối hợp với thiền định (an tâm) mới tiêu trừ được phiền não, nên trước hết ta sẽ tu tập thiền định, bắt đầu bằng sự từ bỏ thú vui trần gian.

5) Làm sao một người huyễn lại có thể ái luyến được một người huyễn khác? Dầu trải qua ngàn kiếp cũng không bao giờ gặp lại được người yêu.

6) Không gặp được thì đau khổ, buồn bã, không thể tập trung tâm ý được. Vả nếu được gặp thì lại bị dục vọng dày xéo, không bao giờ thỏa lòng.

7) Vì không nhìn thấy thực tại nên con người quên sợ tội lỗi, vì ái luyến người yêu mà cam để sầu khổ dày xéo.

8) Cứ thế trầm mình, cuộc đời ngắn ngủi trôi qua một cách vô ích. Chỉ vì một người bạn phù du mà đành bỏ diệu pháp vĩnh cửu.

9) Nếu bắt chước kẻ điên (người đời), chắc chắn sẽ xuống địa ngục. Mà nếu không làm giống họ thì cần gì phải ở gần giao thiệp.

10) Phút trước là bạn, phút sau đã thành thù. Muốn làm vừa lòng, họ lại giận tức. Làm sao chiều ý được những người tráo trở ?

11) Ðược khuyên làm lành, họ lại nổi giận và muốn kéo ta theo họ. Nếu ta không nghe, họ cũng nổi giận và như thế chắc chắn (họ) sẽ bị đọa.

12) Thèm muốn (chức vị của) người trên, ganh tỵ với kẻ ngang hàng, khinh khi người dưới. Ðược khen thì kiêu ngạo, bị chỉ trích thì nổi giận, bao giờ kẻ ngu mới tạo công đức?

13) Tâng bốc mình, khinh chê kẻ khác, nói chuyện phù phiếm thế gian. Kẻ điên luôn luôn thích thâu nhặt điều vô ích của những kẻ điên khác.

14) Giao thiệp như vậy với người đời chỉ đem lại khổ não. Tốt hơn ta sống một mình ẩn dật, thân tự tại, tâm an vui.

15) Hãy xa lánh người đời ! Nếu có gặp thì ta đối xử nhã nhặn, không phải để làm quen mà vì lòng bình đẳng.

16) Cũng như ong hút nhụy hoa, ta chỉ lãnh nhận những gì lợi ích cho sự tu đạo, ngoài ra ta thản nhiên như người chưa hề quen biết.

17) Nếu ham thích tiền của, danh vọng, địa vị v.v… ta sẽ hoảng sợ khi tử thần đến.

18) Không biết đâu là chân hạnh phúc nên bất cứ vật gì mà tâm bám víu (để cầu khoái lạc) cũng đều trở thành khổ đau.

19) Do đó, bậc hiền giả không bao giờ ái nhiễm, vì ái nhiễm sẽ đưa đến lo sợ. Ngay khi một ý niệm ái nhiễm khởi lên, tâm cũng phải cứng rắn lìa bỏ.

20) Dù có giàu sang, nổi tiếng, nhiều tiền của, nhưng cuối cùng chúng cũng đâu có theo ta vào cõi chết.

21) Tại sao vui mừng khi được khen? Thiếu gì kẻ khác sẽ chê ta. Tại sao lại buồn khi bị chê? Chẳng lẽ không còn ai khen ta sao?

22) Chúng sinh mong ước đủ điều, ngay cả chư Phật cũng không chiều ý nổi huống chi một kẻ ngu dốt như ta. Tốt hơn nên ẩn dật xa lìa cảnh đời đảo điên.

23) Khinh chê kẻ nghèo, kết tội kẻ giàu : với những người tráo trở như vậy, làm sao vui sướng ở gần?

24) Người đời (thực sự) không thương ai cả, chư Phật đã nói, họ chỉ thương vì ích kỷ mà thôi.

25) Ôi ! Bao giờ ta mới được sống trong rừng, giữa loài cỏ cây, chim muông hiền hòa, không bao giờ biết nói xấu ai?

26) Ta sẽ an trú trong một am vắng dưới gốc cây hoặc hang núi nhỏ. Ôi ! Khi nào ta mới xả bỏ tất cả ra đi không luyến tiếc?

27) Khi nào ta mới sống độc lập, tự tại trong cảnh thiên nhiên, ẩn dật?

28) Vỏn vẹn chỉ một bình bát và áo cà sa, khi nào ta mới sống vô úy, không cần lo nghĩ cho thân?

29) Khi nào ta mới đến nghĩa địa (quán chiếu) để hiểu rằng thân ta cũng như bao xác chết kia, chỉ là đồ bất tịnh thối rữa?

30) Hãy nhìn đi! Thân ta sẽ như thế đó! Ngay cả đám sói rừng cũng không dám đến gần vì mùi thối.

31) Bình thường thân người lúc sống, dường như một vật độc lập tự tánh, nhưng lúc đó xương thịt sẽ tan rã rời rạc. Thân của bạn bè ta cũng sẽ như vậy không khác!

32) Con người được sinh ra một mình và sẽ chết đi một mình ! Không ai có thể chia xẻ đau đớn cho ai. Thế thì bạn bè nhiều để làm gì? Chỉ là chướng ngại cho sự tu hành.

33) Như người du khách dừng nghỉ nơi khách sạn, người đi du lịch luân hồi cũng tạm ghé qua một cuộc đời.

34) Từ đây cho đến lúc bốn tên phu đám ma tới khiêng cái thây này đi, giữa tiếng gào thét của người thân, ta phải mau rút vào rừng.

35) Không thương tiếc mà cũng không ghét bỏ ai, ta sống một mình ẩn dật. Ðối với đời xem như đã chết, khi ta chết thật sẽ không còn ai than khóc ta nữa.

36) Không ai ở gần bên quấy rầy than khóc, như thế tâm ta chánh niệm chỉ nhớ đến Phật và Pháp.

37) Sống ẩn dật thật là sung sướng, không sầu não, tự tại, biết đủ, dễ trừ phóng dật, xao lãng. Ta sẽ sống như vậy suốt đời.

38) Thoát ly mọi lo nghĩ, ta chỉ còn một việc: tập trung tâm ý trong thiền định và quán chiếu thâm sâu [1].

39) Ái dục, tình yêu là nguyên nhân của đau khổ: tù tội, đâm chém, sát hại trong đời này, địa ngục cho đời sau.

40-42) Vì tình yêu, ái dục mà ngươi đã luồn cúi bao nhiêu ông mai, bà mai; ngươi bất kể tội lỗi, danh dự, nhiều khi tiêu gia bại sản, thiếu điều mất mạng. Cái mà xưa kia ngươi sung sướng ôm ấp đó, nó chỉ là đ?ng xương vô chủ, không có tự tánh. Ngày nay nó hiện nguyên hình, sao ngươi không tiếp tục ôm ấp nó đi?

43-45) Cái gương mặt e thẹn ưa cúi gầm xuống, hay được che bằng tấm lụa mỏng không cho ai xem thấy, thì nay đàn diều hâu kia đang mở tung cho ngươi thấy đó. Hãy nhìn kỹ đi ! Ô kìa ! Sao ngươi lại bỏ chạy? Chính cái gương mặt đó, xưa kia ngươi đã ích kỷ, bảo vệ cẩn thận không cho kẻ khác nhìn ngắm mà ! Bây giờ nó đang bị mổ ăn đó, sao ngươi không bảo vệ nữa đi? Ôi, kẻ ghen sắc!

46) Ngươi có thấy cái đống thịt kia đang bị cắn xé ngấu nghiến bởi diều hâu và thú rừng không? Tại sao ngươi lại có thể biếu tặng vòng hoa, nữ trang, hương trầm cho cái gọi là “đồ ăn của thú vật”?

47) Khi thấy xác chết nằm im không cựa quậy thì ngươi sợ hãi. Thế sao đối với những cái xác cử động (kích thích bởi thú tính) thì ngươi lại không sợ?

48) Bộ xương kia khi được bao bọc bởi một lớp da thì ngươi yêu thương nó; bây giờ nó được lột trần thì ngươi lại hoảng sợ. Nếu bảo không cần dùng thì sao xưa kia ngươi lại vuốt ve nó?

49) Nước miếng và phân uế cũng cùng từ đồ ăn mà ra. Thế sao ngươi lại ưa nước miếng, ghét phân uế [2].

50) Cái gối ngủ kia làm bằng bông lụa êm mát, sao ngươi không ưa thích. Chẳng lẽ ngươi không ý thức được mùi ô uế của thân tình nhân sao? Ôi, kẻ tham dâm, ngươi không còn biết đâu là nhơ là sạch sao?

51) Cái gối kia vừa êm vừa mát, lại không bài tiết ra đồ bất tịnh, sao ngươi không ôm ấp nó mà lại giận dữ vứt bỏ?

52) Nếu ngươi không ưa đồ bất tịnh tanh hôi thì sao ngươi lại thích ôm ấp những thân thể, chúng chỉ là một thùng xương gắn liền với nhau bằng gân thịt, bao bọc bởi một lớp da.

53) Chính ngay thân thể ngươi cũng đã đầy đủ thứ bất tịnh, bấy nhiêu chưa đủ cho ngươi thưởng thức sao? Ôi kẻ ham thích đồ bẩn!

54) “Nhưng tôi thích da thịt của người đàn bà này! Tôi thích nhìn ngắm và sờ mó nó!”. Tại sao ngươi lại có thể thèm khát da thịt, là một thứ vô tri? Nếu vậy khi nó nằm trơ, không còn thần thức, sao ngươi không ưa thích đi?

55) Nếu bảo cái mà ngươi ưa thích là tâm nằm ở trong cái thân này, thì ngươi lại càng không thể thấy hay sờ mó nó. Vì cái mà ngươi sờ mó được, đó không phải là tâm. Vậy ngươi ôm ấp cái thân kia làm chi vô ích!

56) Ngươi có thể không hay biết về sự bất tịnh nơi thân thể kẻ khác, nhưng không ý thức được chính thân thể ngươi là một thùng rác nhơ bẩn thì quả là một điều không tưởng!

57) Tại sao ngươi có thể xem thường, bỏ rơi một bông sen chớm nở dưới ánh mặt trời để đi ưa thích một thùng rác nhơ bẩn?

58) Ngươi ghê tởm không dám đụng vào đồ vật bị dính chút phân uế, thế sao ngươi lại vui thích sờ mó cái thân (tình nhân) là nơi xuất xứ ra phẩn uế?

59) Nếu không say mê đồ bất tịnh, tại sao ngươi lại thích ôm ấp một cái thân khác, xuất xứ từ nơi bất tịnh và chuyên chứa tinh huyết?

60) Ngươi không thích những con trùng xuất xứ từ đống rác, chắc tại ngưoi chê nó nhỏ, phải chăng ngươi thích một cái thân lớn hơn chuyên chứa và xuất xứ từ bất tịnh?

61) Không những không biết ghê tởm sự bất tịnh nơi thân mình, ngươi lại thèm khát, tìm kiếm những túi, những thùng bất tịnh khác. Ôi, kẻ thực uế!

62) Ngay cả những đồ sạch sẽ, thơm ngon hấp dẫn như long não, cơm canh, mỹ vị, một khi được khạc ra khỏi miệng, chúng cũng làm dơ cả mặt đất.

63) Tuy hiển nhiên, nhưng nếu ngươi không tin sự bất tịnh của thân thì hãy vào nghĩa địa, nhìn những xác chết kia xem!

64) Khi được lột hết lớp da ra, cái thân kia chỉ là một vật ghê tởm. Hiểu thực tướng của nó như thế, sao ngươi vẫn còn say mê?

65) Nếu nó xức hương trầm và tỏa ra mùi thơm dễ chịu thì đó là mùi hương trầm chứ đâu phải là mùi của nó (thân). Tại sao chỉ vì mùi khác mà lại bám víu thân này?

66) Nếu để thân thể tự nhiên hôi thối nó sẽ không kích thích lòng dục, như thế có tốt hơn không? Tại sao lại đi tẩm xức dầu thơm cho nó để sau này nó hại mình?

67) Hương trầm tỏa mùi thơm thì ăn nhằm gì đến thân này? Tại sao chỉ vì một mùi thơm khác mà lại ái nhiễm thân này?

68) Thân người thật đáng tởm, nếu để nguyên nó tự nhiên sẽ thấy: tóc dài, móng dài, răng vàng, cấu ghét nhơ bẩn,…

69) Tại sao lại phải mệt nhọc sửa soạn, trang sức cho nó, có khác chi mài gươm để tự chém mình sau này? Ôi, thế gian đầy những kẻ điên chuyên tự lừa dối mình!

70) Thấy vài bộ xương trong nghĩa địa thì ngươi ghê tởm, trong khi đó ngươi lại vui thích thấy đầy những bộ xương di động trong thành phố.

71) Chưa hết! Cái thân bất tịnh của người yêu ngươi, đâu phải không tiền mà có được nó. Ngươi phải tốn nhiều công của mới có được nó để rồi sau này phải trả giá khổ đau nơi địa ngục.

72) Muốn có được một người đàn bà (vợ) thì phải có tiền. Lúc nhỏ thì không thể kiếm tiền. Lớn lên thì phải lo làm ăn. Khi đủ tiền, giàu có thì tuổi đã về chiều, bắt đầu già nua lụm cụm. Như vậy khoái lạc nhục dục đem lại cho ngươi lợi ích gì?

73) Ðể có thể thoả mãn nhục dục, có người phải làm lụng cực nhọc suốt ngày. Ðến tối về mệt lả nằm dài như những xác chết.

74) Có người phải đi buôn hoặc lưu đày xa nhà lâu năm, không được gặp vợ con mình.

75) Có người tham của, tự bán mình để cầu dục lạc nhưng không bao giờ như ý vì phải luôn luôn hầu hạ kẻ khác.

76) Có người bị bán cho những thương gia, trưởng giả nên phải luôn hộ tống phái đoàn. Vợ của họ nhiều khi phải sanh đẻ trong rừng rậm, hang hóc.

77) Có người vì mưu sống, xung vào quân trận bất chấp nguy hiểm tánh mạng. Họ tìm vinh quang nhưng lại gặp tù đày.

78) Có người vì cướp giật tiền của, vợ con kẻ khác nên bị chém chặt, xuyên cọc, thiêu sống hay ném lao.

79) Khổ cực tìm cầu, có được thì phải lo giữ gìn, để rồi cuối cùng đau buồn vì mất tất cả, đó là tiến trình của sự ham mê tài sản! Những kẻ hay bám víu tài sản, danh lợi, không nghĩ đến giải thoát, sẽ không bao giờ tránh khỏi khổ đau của cuộc đời.

80) Những kẻ nô lệ cho ái dục thường lâm vào cảnh khốn cùng, nếu được thỏa mãn thì cũng không hơn gì con trâu kéo cầy được thưởng cho vài cọng cỏ.

81) Chỉ vì một chút xíu thỏa mãn sung sướng (mà ngay cả súc vật cũng có thể làm được), con người, che lấp bởi nghiệp chướng, lại tự thả trôi qua thời giờ vàng ngọc của kiếp người khó được.

82) Chỉ vì cái thân phù du khốn nạn này mà con người ra vào địa ngục, nhẫn chịu khổ đau từ vô thỉ đến giờ.

83) Trong khi chỉ cần cố gắng một triệu lần ít hơn (trên), người ta có thể chứng đạt quả Bồ Ðề. Thật ra những kẻ nô lệ cho ái dục chịu khổ nhiều hơn chư Bồ Tát mà vẫn không chứng quả Bồ Ðề.

84) Không có nguy hiểm nào có thể sánh được với ái dục, dù là đao kiếm, thuốc độc, sắt nóng, vực thẳm, v.v… chỉ cần nghĩ đến cực hình của địa ngục cũng đủ sợ rồi.

85) Do đó hãy cẩn thận coi chừng ái dục! Hãy sống an vui một mình, noi gương các bậc hiền giả, sống trong rừng yên tĩnh, xa lìa tranh luận hơn thua.

86) Trên những tảng đá thiên nhiên bằng phẳng rộng rãi, phảng phất mùi hương trầm làm thơm ngát ánh trăng, ngọn gió núi thổi mát cánh rừng yên lặng; bình thản, các ngài an trú, luôn nghĩ đến sự lợi ích, giải thoát chúng sinh.

87) Các ngài ở lâu tùy ý trong những căn nhà bỏ hoang, dưới gốc cây hoặc trong hang núi; không còn bận tâm giữ gìn của cải, các ngài sống độc lập, an nhiên.

88) Ðến đi tự tại, không ham cầu, không dính mắc, không liên lụy một ai, các ngài vui hưởng niềm hạnh phúc mà ngay cả vua trời Indra cũng khó biết mùi.

89) Nhờ luôn nhớ tưởng đến lợi ích của cuộc sống độc thân ẩn dật, bao nhiêu ý niệm phù du sẽ bị dẹp trừ. Từ đó hãy quán chiếu về Bồ Ðề Tâm.

90) Trước hết ta quán chiếu về sự bình đẳng giữa ta và người : “Tất cả chúng sinh đều như nhau, ai cũng muốn hạnh phúc, xa lìa khổ đau. Do đó ta phải biết bảo vệ chúng sinh cũng như chính ta vậy”.

91) Thân người, tuy được cấu tạo bởi nhiều phần khác nhau, nhưng ta luôn bảo vệ và xem nó như là “một”. Cũng vậy, chúng sinh tuy nhiều loài, nhưng cùng chung khổ đau và sung sướng nên cần được xem là “một”.

92) Khi ta cảm thọ đau đớn, sao những người khác không hề hấn gì? Bởi vì ta cho cảm thọ đó là Ta, là của Ta nên ta không thể chịu nổi sự đau đớn đó.

93) Cũng thế khi kẻ khác bị đau đớn, ta đây đâu cảm thấy gì. Tuy vậy, nếu xem kẻ khác “chính là ta” thì sự đau đớn của họ cũng là của ta và ta sẽ kham chịu không nổi.

94) Từ nay trở đi, ta sẽ tiêu diệt tất cả khổ đau của kẻ khác cũng như của ta vậy. Và ta sẽ làm lợi ích cho kẻ khác vì họ cũng là chúng sinh như ta vậy.

95) Ta và chúng sinh đồng cầu hạnh phúc như nhau, lý do gì ta lại tranh đấu tìm hạnh phúc cho riêng mình?

96) Ta và chúng sinh cùng sợ nguy hiểm khổ đau như nhau, ưu tiên gì mà ta chỉ muốn cứu thoát lấy mình?

97) “Nhưng khổ đau của kẻ khác, không liên quan gì đến ta, tại sao phải bảo vệ họ chứ?”. Nói thế, sao đau khổ của thân đời sau, không làm ta đau bây giờ, cần gì phải sửa soạn (tu hành)?

98) “Tại vì thân đời sau vẫn là Ta”. Lầm rồi! Chết là một người, tái sinh là một người khác.

99) “Người nào đau thì người đó phải tự chữa lấy!”. Nói vậy thì cái đau của chân không ăn nhằm gì đến tay, sao tay lại phải xoa bóp chân?

100) “Cái đó tuy vô lý nhưng mọi người đều làm vì cảm thọ liên quan đến cái Ta”. Tất cả những gì vô lý, dù của ta hay của người khác cũng đều phải loại bỏ.

101) Tràng hạt và một đội quân là ảo tưởng của sự liên tục và tập kết. Không có “ai” là chủ thể của đau khổ và như thế “ai” cảm thọ đau khổ?

102) Bất cứ sự đau khổ nào cũng đều “vô chủ”. Không có đau khổ nào là của riêng ta hay riêng của người khác cả! Sao lại nghĩ rằng ta không tiêu trừ được đau khổ cho kẻ khác?

103) “Nhưng nếu không có ai là người đau khổ thì tại sao phải diệt trừ khổ đau?”. Bởi vì tất cả chúng sinh bình đẳng như nhau. Nếu đau khổ cần được diệt trừ thì phải diệt trừ hết mọi nơi. Nếu không thì không cả, có lý nào chỉ diệt trừ (đau khổ) nơi ta mà không nơi kẻ khác?

104) “Nhưng từ bi như vậy chỉ đem lại lo lắng, khổ nhọc, hơi đâu tăng trưởng làm chi?”. Sự khổ nhọc đó so sánh với sự khổ đau của chúng sinh có thấm thía vào đâu!

105) Nếu sự đau khổ của một người có thể dập tắt đau khổ của nhiiều người khác thì bậc từ bi sẽ sẵn sàng tình nguyện hy sinh.

106) Cũng như Bồ Tát Supuspacandra, dù biết nhà vua ác độc, nhưng vẫn can đảm đối đầu, hy sinh tánh mạng cứu vớt chúng sinh [3].

107) Vì đã điều phục được tâm, sung sướng khi xoa dịu được nỗi đau của kẻ khác, bậc Bồ Tát xông vào địa ngục cũng như thiên nga nhảy vào hồ sen.

108) Làm sao giải thoát riêng mình khi sự giải thoát tất cả chúng sinh, đối với các ngài, là cả một biển an vui?

109) Ta sẽ không kiêu ngạo khoe khoang khi làm lợi ích cho kẻ khác và cũng không mong cầu được đền đáp. Làm vì kẻ khác chính là niềm vui của ta rồi.

110) Như vậy nếu ta biết bảo vệ mình trước sự nhục mạ, lấn áp bao nhiêu thì ta cũng phải hết sức bảo vệ người khác bấy nhiêu với tấm lòng từ bi.

111) Tuy không thể tìm thấy một nền tảng thực chất nào, nhưng vì nghiệp lực hay thói quen, con người đã gán vào tinh, huyết của kẻ khác [4] một cái danh từ “Ta”.

112) Như vậy tại sao lại không thể xem thân thể kẻ khác cũng là “Ta”? Và xem thân ta như làm bằng thân thể của kẻ khác?

113) Chỉ biết thương mình là một tánh xấu, biết thương yêu kẻ khác là biển công đức. Ý thức được như thế, ta sẽ lìa bỏ tánh ích kỷ và tập thương yêu kẻ khác.

114) Con người biết xem tay và chân là một phần của thân thể, tại sao lại không biết xem kẻ khác là một phần của sự sống?

115) Vì thói quen, chúng ta đã xem cái thân “vô tri” này là Ta, tại sao không chịu tập thói quen xem kẻ khác là Ta?

116) Nhờ thực hành không còn ý niệm về cái “Ta” nên khi làm việc cho kẻ khác, chúng ta sẽ không tự phụ, khoe khoang, cũng không cầu đền đáp.

117) Ta biết lo lắng cho mình khỏi bị bần cùng, khốn khổ, v.v… thì ta cũng phải tập khởi lên những ý niệm thương yêu, bảo vệ kẻ khác như một thói quen vậy.

118) Chính vì thế mà Ðấng Bảo Vệ đại từ bi Quán Thế Âm (Avalokita) đã để lại danh hiệu của ngài cho chúng sinh dùng khi sợ hãi, ngay cả lúc hồi hộp trong đám đông.

119) Không nên thụt lùi trước trở ngại, khó khăn, bởi vì với (sức của) thói quen, ta sẽ không còn sợ hãi bất cứ một ai, dù xưa kia chỉ nghe danh người đó cũng đủ làm ta khiếp sợ.

120) Người nào muốn giải thoát mình và người cần phải thực hành một pháp tối mật: đổi người thành ta hay đổi ta thành người.

121) Chỉ vì ái luyến thân này xem nó là ta nên con người hoảng sợ trước mọi sự nguy hiểm, dầu nhỏ nhoi. Tốt hơn nên xem nó như kẻ thù, vì nó chính là nguyên nhân của sợ hãi.

122) Ðể chống chọi với bịnh tật, đói khát, nóng lạnh, ta đã thản nhiên giết hại chim, cá, thú rừng và theo dõi cướp giật kẻ khác.

123) Bởi tham lam tài sản tiện nghi mà ta đã không ngần ngại giết cha, mẹ và trộm cắp của cúng dường Tam bảo. Như vậy, làm sao thoát khỏi sự thiêu đốt của địa ngục?

124) Làm sao một bậc hiền giả, thấy rõ thân này là kẻ thù, lại có thể nâng niu chiều chuộng nó được?

125) “Nếu tôi cho thì còn gì để ăn?”. Vì sự ích kỷ này ngươi sẽ tái sinh trong loài ngạ quỷ. “Nếu tôi ăn thì lấy gì mà cho họ?” nhờ lòng thương người này ngươi sẽ là vua cõi trời.

126) Kẻ nào vì ích kỷ mà làm hại người khác thì sẽ bị nấu chín trong địa ngục. Kẻ nào vì lợi người mà nhẫn chịu khổ, sẽ hưởng quả báo an vui vô cùng.

127) Nếu xem mình là quan trọng, đáng quý thì đời sau sẽ tái sinh làm kẻ xấu xí, ngu dốt, bần cùng. Nhưng nếu biết chuyển cái nhìn đó về kẻ khác thì ta sẽ hưởng quả báo thông minh, vinh dự, an vui cõi trời.

128) Nếu lợi dụng kẻ khác khiến họ làm việc cho mình thì ta sẽ bị quả báo nô lệ. Nhưng nếu hiến mình phụng sự kẻ khác, ta sẽ hưởng quả báo giàu sang, quyền quý.

129) Những ai đau khổ đời này đều là những kẻ năm xưa chỉ biết tìm hạnh phúc cho riêng mình (cái ta). Những ai sung sướng đời này đều là những kẻ đã tìm hạnh phúc cho người khác.

130) Nói thêm nữa có ích lợi gì? Hãy nhìn và so sánh giữa kẻ ngu (trần gian) chỉ biết ích kỷ cá nhân và bậc thánh (Bồ Tát) chuyên làm lợi ích cho kẻ khác.

131) Nếu không biết trao hạnh phúc của mình đổi lấy đau khổ của chúng sinh thì làm sao có được quả báo an vui trong kiếp luân hồi, nói chi đến việc thành tựu Phật quả.

132) Chẳng cần nói đến đời sau, ngay trong đời này, nếu kẻ nô bộc, không làm tròn phận sự, hoặc chủ nhân không trả tiền xứng đáng, thử hỏi công việc có trôi chảy xong xuôi không?

133) Thay vì làm lợi ích cho nhau, căn bản hạnh phúc của đời này và đời sau, con người lại chuyên làm hại lẫn nhau để chuốc lấy quả báo khổ đau khốn cùng.

134) Tất cả tai nạn, khổ đau, nguy hiểm của đời này đều bắt nguồn từ sự bám víu vào cái Ta (chấp ngã). Tại sao lại bám víu vào nó?

135) Nếu không phân tách, tháo gỡ được cái “Ta” thì không thể thoát khỏi đau khổ, cũng như không tránh xa lửa thì khó tránh khỏi rát bỏng.

136) Thế thì, để xoa dịu nỗi kh? của ta và người, ta sẽ hiến mình cho kẻ khác và xem kẻ khác như “chính ta” vậy.

137) Tâm ơi hãy tin chắc rằng: “Ta đây thuộc kẻ khác!”. Từ nay trở đi, ngươi chỉ được quyền nghĩ đến lợi ích của kẻ khác mà thôi.

138) Cặp mắt này không phải là của ta nữa nên nó không còn nhìn thấy những cái lợi cho ta; tay và các bộ phận khác cũng vậy, chúng thuộc về kẻ khác nên không còn cử động cho cái lợi của ta nữa.

139) Hoàn toàn hiến mình cho chúng sinh, tất cả năng lực của thân này ta sẽ đem ra dùng làm ích cho kẻ khác, vì họ là mối lo bậc nhất của ta.

140) Hãy xem những người khiêm tốn kia là ta và đặt ta vào địa vị của họ, như vậy ta có thể khởi tâm kiêu mạn, ganh ghét mà không sợ dính mắc tà kiến.

141) “Cái gì! Nó được khen còn ta bị chê! Nó nhiều tài sản còn ta thì nghèo! Nó được đối xử tốt còn ta thì không! Nó sướng ta khổ!” [5].

142) “Trong khi ta phải làm việc thì nó được nằm nghỉ ! Phải chăng nó quan trọng vì có nhiều đức tính, còn ta hèn hạ vì thiếu tư cách?”

143) “Nhưng làm sao đánh giá được người nào thiếu tư cách? Ai cũng có tư cách riêng của họ, so với người này ta thấp kém, nhưng so với người kia ta trội hơn”.

144) “Sự thấp kém về tài đức và trí huệ của ta bắt nguồn từ ái dục, tà kiến. Nếu nó chữa trị được cho ta thì khó khăn cách mấy ta cũng sẵn sàng chấp nhận”.

145) “Nhưng nó (cái Ta) không thể chữa trị cho ta được, tại sao nó lại dám khinh miệt ta chứ? Như vậy những đức tính của nó giúp ích gì được cho ta nếu nó chỉ biết ích kỷ?”.

146) “Nó không có một chút từ bi đối với những người xấu số rơi rớt trong ba đường ác, vậy mà nó dám kiêu ngạo, khoe khoang tài đức và hạ nhục kẻ hiền”.

147) “Gặp kẻ ngang hàng, nó luôn tìm cách vượt hơn, nếu cần nó có thể kiếm chuyện chửi bới để thỏa mãn lòng tham và tội lỗi của nó”.

148) “Bằng mọi cách ta sẽ phô trương tất cả đặc tính của ta trước mọi người và không để cho ai biết được một chút đức tính nào của nó”.

149) “Ta sẽ che giấu tật xấu của mình và như thế ta sẽ được trọng vọng, giàu sang, tiếp đón, còn nó thì không!”.

150) “Ta sẽ vui sướng thật lâu khi nhìn thấy nó bị sỉ nhục, chế nhạo, xua đuổi”.

151) “Và nếu nó có một chút tài sản hay làm công cho ta thì ta sẽ trả cho nó vừa đủ sống, còn lại bao nhiêu ta sẽ dùng bạo lực chiếm hết”.

152) Khi nghe mọi nơi khen ngợi đức tính của ta, ta sẽ cảm động vui mừng, khoái lạc.

153) Nếu nó còn một chút của cải, ta sẽ dùng bạo lực chiếm lấy và chỉ cho nó một ít đủ sống để có thể phục dịch cho ta.

154) Phải đẩy nó ra khỏi hạnh phúc, vứt lên lưng nó những cực nhọc của ta. Vì nó, (cái ta) mà chúng ta đã chịu 100 lần khổ đau của luân hồi.

155) Tâm ơi, ngươi đã chạy mãi trong vô lượng kiếp tìm cầu lợi ích cá nhân để cuối cùng, bù lại với sự cố gắng đó, ngươi chỉ gặt hái khổ đau.

156) Ðừng ngần ngại nghe lời ta khuyên, sau này ngươi sẽ thấy được lợi ích, vì lời nói của đức Thế Tôn chân thật không lầm lẫn.

157) Nếu xưa kia ngươi sớm biết thực hành phương pháp “đổi người thành ta” thì ngươi đã hưởng Phật quả sung sướng rồi, có đâu khổ sở nông nỗi như ngày hôm nay.

158) Cũng thế, từ lâu ngươi đã xem những giọt tinh, huyết của kẻ khác là “Ta” thì nay, ngươi hãy tập nhìn những kẻ khác là “Ta”.

159) Sau khi nhìn kỹ, nếu thấy có gì lợi ích nơi thân này thì ngươi hãy cướp lấy dành cho kẻ khác.

160) “Kẻ này vui, người kia buồn; kẻ này cao, người kia thấp; kẻ này làm, người kia không”. Sao ngươi chỉ biết ganh tỵ kẻ khác mà không biết ganh tỵ chính ngươi?

161) Hãy kéo “cái Ta” của ngươi ra khỏi sự sung sướng, trói nó vào khổ đau của kẻ khác. Ðể đừng bị lừa, hãy canh chừng cẩn mật hành động của nó.

162) Hãy đổ lên đầu nó (cái Ta) tất cả lỗi lầm của kẻ khác. Và nếu nó có lỗi, dù thật nhỏ, cũng phải khai ra để sám hối.

163) Hãy hạ bệ tiếng tăm của nó xuống và nâng cao danh dự của kẻ khác lên. Hãy bắt nó làm việc cho chúng sinh, như một kẻ hầu thấp nhất.

164) Nếu nó có vài hạnh tốt, ngươi cũng đừng khen ngợi và đừng cho kẻ khác hay biết.

165) Tóm lại, hãy đổ lên “cái Ta” của ngươi tất cả niềm đau mà ngươi đã tạo cho kẻ khác.

166) Ðừng cho nó quyền hành, lắm lời, xấc xược. Hãy bắt nó e thẹn như một nàng dâu, kín đáo, dè dặt khi mới về nhà chồng.

167) “Không được làm cái này! Phải đứng như thế kia!” cứ như thế ngươi điều phục nó theo ý muốn. Nếu nó vi phạm thì phải trừng trị liền.

168) “Khi ta nói như vậy mà ngươi không nghe lời thì tâm ơi, ngươi sẽ biết tay ta. Hỡi đồ chuyên tạo tội !”.

169) “Thời gian mà ngươi tùy ý lừa đảo ta đã qua rồi ! Giờ đây ngươi làm gì, nghĩ gì ta đều thấy hết và ta sẽ chà đạp tất cả sự kiêu hãnh của ngươi”.

170) “Nếu ngươi còn hy vọng tìm kiếm lợi ích riêng tư thì hãy mau từ bỏ đi! Ta không buồn chút nào về sự khổ sở của ngươi, vì ta đã bán ngươi cho kẻ khác rồi”.

171) “Nếu ta dại dột không bán ngươi cho kẻ khác thì chắc chắn ngươi sẽ trao ta cho loài quỷ giữ ngục”.

172) “Không biết bao lần ngươi đã trao ta cho chúng nó hành hạ đau khổ triền miên! Giờ đây nhớ lại sự độc ác đó, ta phải chà đạp ngươi, ôi cái tâm ích kỷ!”

173) Nếu muốn sung sướng, nhớ đừng nuông chiều cái Ta! Nếu muốn yên thân, nhớ đừng thèm bảo vệ nó!

174-175) Nếu chiều chuộng nó, ngươi sẽ sa vào hố thất vọng. Vì lúc đó toàn quả địa cầu này cũng không đủ thỏa mãn lòng tham của nó.

176) Ham muốn điều không thể có chỉ dẫn đến khổ đau và thất vọng. Ngược lại, không hy vọng tham cầu thì sẽ an nhiên hưởng lạc không bao giờ hết.

177) Do đó hãy chặn đứng những cơ hội ham muốn của thể xác. Chỉ nên ham muốn những gì không đáng ham muốn.

178) Ôi thể xác! Ðồ bất tịnh ghê tởm. Cuối cùng nó sẽ bất động và tan thành tro bụi. Tại sao lại bám víu vào nó, cho đó là “Ta”?

179) Dù sống hay là chết, cái “máy thân” này có ích gì? Có gì khác giữa nó và một nắm đất? Ôi tâm niệm chấp ngã, sao ngươi chưa chết đi?

180) Chỉ vì phụng sự cho thân này một cách ngu xuẩn mà ta phải chịu muôn vàn khổ đau. Thương tiếc hay ái luyến nó có ích gì trong khi nó chỉ là một hình nộm.

181) Ðược ta săn sóc, nó cũng không thương. Bị diều hâu cắn xé, nó cũng không ghét. Thế thì sao lại phải thương yêu nó chứ?

182) Ta nổi giận khi nó bị xử tệ; ta sung sướng khi nó được khen thưởng. Nhưng tự tánh nó vô tri không biết gì, tại sao ta phải khổ sở giùm nó chứ?

183) “Những ai thương thân này thì kẻ đó là bạn của Ta”. – Ðược! Nhưng mọi người ai cũng thương thân của họ, tại sao ta lại không phải là bạn của họ?

184) Như vậy, vì lợi ích chúng sinh, ta sẽ từ bỏ ái luyến thân này. Nếu giữ gìn nó, chẳng qua chỉ để làm khí cụ hoạt động mà thôi.

185) Thôi đủ rồi! Những thói phàm phu! Từ nay ta quyết theo chân các bậc hiền giả, luôn giữ gìn chánh niệm, không để hôn trầm, giải đãi lôi cuốn.

186) Cũng như các Bồ Tát, con trai của bậc Thắng Vương, ta sẽ nhẫn chịu tất cả khó khăn xảy đến. Vì nếu không tinh tấn ngày đêm như thế, ngày nào mới chấm dứt được khổ đau?

187) Ta phải kéo tâm ra khỏi ảo ảnh tà kiến, đặt nó vào nẻo chánh của Thiền Ðịnh.

Chú thích:

[1] Shiné-Lhagtong: Chỉ-Quán

[2] Ở đây tôn giả Santideva nói thẳng, không quanh co về sự bất tịnh và si mê ái dục của con người.

[3] Chuyện Bồ Tát Supuspacandra, vì cương quyết thuyết pháp nên bị vua Curadatta hành hạ. Trong Tam ma địa Vương Kinh (Samadhirajasutra).

[4] Tức của cha mẹ

[5] Ở đây tác giả đặt mình vào địa vị kẻ khác rồi hướng về “cái Ta” (Ngã) mà nói. Do đó chữ “nó” tức là cái Ta (Ngã), còn “ta” tức là người khác (kẻ khiêm tốn).

Chương 9

Trí huệ

1) Tất cả những hạnh trước được chỉ dạy bởi đấng Xuất Thế cốt để cuối cùng dẫn đến trí huệ. Do đó, kẻ nào muốn diệt trừ tận gốc khổ đau phải tập khai triển trí huệ.

2) Có hai loại chân lý: chân lý bao phủ [1] và chân lý tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối, vượt ngoài tầm hiểu biết của thông minh trí thức nên nó không bị “bao phủ”.

3-4) Cũng từ đó mà có hai loại người: a) Người trầm tư hiền giả [2] thường an trú trong thiền định và quán chiếu nội tâm, và b) “Người thường” là người sống ngược lại như trên, họ xem thân là một tự thể và tâm là thường hằng vĩnh cữu. Trong số các bậc hiền giả cũng có hai hạng: thượng và hạ tùy theo căn cơ, nhưng cả hai cùng hướng tới một mục đích chung.

5) Người thường thì thấy và cho rằng sự vật hiện hữu thực sự, còn bậc hiền giả thì thấy chúng chỉ là ảo tưởng. Ðó là sự khác biệt giữa hai bên.

6) Hình sắc và trần cảnh được công nhận là có thật do sự nhận thức của số đông (người thường) chứ nó không có một bằng chứng vững chắc. Sự nhận thức này thường là sai lầm, thí dụ như cho những gì bất tịnh là trong sạch.

7) Khi bậc Ðạo Sư giảng nói về sự thật, ngài dùng phương tiện thiện xảo cốt dẫn đưa về Không Tánh. – Thế thì khi nói các pháp là “tạm thời” [3], phải chăng là chân lý tuyệt đối?. – Không! – Là chân lý bao phủ chăng? Nếu vậy thì thật là mâu thuẫn.

8) – Không có lỗi trong chân lý bao phủ của bậc hiền giả, vì so sánh với người thường, các ngài nhìn thấy rõ sự thật. – Các anh chối hả? Chính các anh tự tách rời quan niệm quần chúng, cho đàn bà (nữ sắc) là bất tịnh.

9-10) Nếu các pháp không có thật thì đức Phật cũng chỉ là một ảo tưởng. Và như thế, lễ lạy ngài được công đức gì? – Theo các anh, lễ lạy một đức Phật thật cho ra công đức thật thì đối với chúng tôi cũng vậy, lễ lạy một đức Phật ảo sẽ cho ra công đức ảo. – Nhưng nếu con người là ảo tưởng thì làm sao y có thể chết và tái sinh lại được? – Ngày nào còn đầy đủ nhân duyên thì ngày đó ảo tưởng còn tiếp hiện. Ðâu phải vì thời gian hiện hữu của con người dài hơn một ảo tưởng mà dám quả quyết con người hiện hữu thực sự.

11) – Nếu vậy thì giết người sẽ không bị tội, vì họ (là ảo tưởng) không có tâm thức. – Bị tội! Vì con người chính là ngoại ảnh của tâm thức và từ đó phát sinh ra công đức cùng tội lỗi.

12-13) – Một cái tâm ảnh hiện bên ngoài không thể có được, ngay cả thần chú, ảo thuật cũng không thể tạo ra nó được. – Nhưng những hình ảnh này phát xuất từ nhiều nhân khác nhau; một nhân độc nhất đâu hẳn cho ra nhiều quả.

14-15) – Nếu theo chân lý tuyệt đối, tất cả chúng sinh đều tự tánh Niết Bàn, sự luân hồi chỉ là ảo tưởng, vậy thì đức Phật cũng luân hồi. Như thế tu tập Bồ Tát Hạnh có ích lợi gì? – Ngày nào nhân duyên của nó chưa bị tiêu diệt thì ngày đó ảo tưởng vẫn tiếp tục. Khi nhân duyên không còn thì ngày đó nó mới tan biến. Ðức Phật đã diệt trừ được nhân duyên của ảo tưởng nên tuy có hình tướng nhưng ngài không lệ thuộc vào luân hồi.

16) Nếu các pháp không thực có, ngay cả cái tâm năng quán, vật thì ai (hay cái gì) thấy biết được ảo tưởng? – Theo các anh, các pháp bên ngoài là ảo tưởng không có thật, vậy thì cái gì bị nhận thức? [4]

17-18) – Ðó là những hình ảnh (đối tượng) của tâm và cũng chính là tâm. -Nhưng nếu ảo cảnh cũng chính là tâm thì tâm nào thấy và tâm nào bị thấy? Ðức Phật có nói: “Tâm không thể thấy tâm cũng như lưỡi gươm không thể tự chặt nó được.”

19-20) – Tâm tự biết tâm cũng như ngọn đèn tự chiếu rọi nó. – Ngọn đèn không tự rọi nó được, vì nó chưa từng bị che khuất.

21-23) – Chúng tôi muốn nói là nó tự sáng, không lệ thuộc gì bên ngoài. Cũng như màu xanh của ngọc lưu ly, tự nó xanh, khác với màu xanh của một tấm kính đặt trên vải xanh. Do đó sự vật có cái tùy thuộc nhân duyên, có cái độc lập tự tánh. – Màu xanh không có tự tánh độc lập, vì nó tùy nơi ngọc lưu ly. Nó không phải là cái gì không xanh mà trở thành xanh. Giả dụ tâm thấy và xác nhận rằng ngọn đèn chiếu sáng, nhưng ai (cái gì) thấy và xác nhận rằng tâm chiếu sáng (biết)? Thí dụ (về ngọn đèn) của các anh không hợp lý, vì chưa có cái tâm nào thấy được cái tâm năng chiếu. Như vậy không còn lý do gì để tiếp tục nói là tâm có khả năng tự biết. Nếu không, chẳng khác gì bàn cãi xem con gái của người đàn bà bất thụ [5] đẹp hay xấu!

24) – Nhưng nếu không có tánh tự biết [6] thì làm sao con người nhớ được sự việc đã qua? – Trí nhớ xuất hiện do tương duyên với cảnh vật bên ngoài, tựa như vết cắn của chuột gấu [7].

25) – Có người đầy đủ nhân duyên (như thiên nhãn hay linh cảm) thấy được tâm ý kẻ khác, chẳng lẽ họ không thấy được chính tâm họ sao? – Người dán bùa trên mắt có thể thấy được đồ vật cất dấu dưới đất nhưng không thể thấy được lá bùa ngay trên mắt họ.

26) – Nếu biết cái tự biết không có thật thì những tánh biết khác (của các căn) như thấy, nghe, biết, v.v… cũng không có thật. – Chúng tôi không phủ nhận sự thấy, nghe, biết…, nhưng nếu bảo chúng có thật thì chúng tôi không chấp nhận vì đó là nguyên nhân của đau khổ.

27) Nếu bảo ảo cảnh không phải tâm là sai, nếu bảo là tâm cũng là sai. Nếu nó có thật thì làm sao là tâm được? Nếu nó là tâm thì làm sao có thật được?

28) Tuy không có thật, nhưng ảo cảnh vẫn bị thấy (ảnh hiện). Tuy không có thật, nhưng tâm vẫn thấy được (ảo cảnh).

29-30) Theo các anh (Duy Thức) thì luân hồi (không có thật) bắt nguồn từ một nền tảng có thật (tức là tâm). Làm sao một vật không có thật lại có thể hành động, tạo tác trên một vật có thật được? Theo lập luận của các anh, tâm là một loại Thức-bất-nhị-độc hành không cần có đối tượng. Và nếu tâm hiện hữu riêng biệt ngoài đối tượng thì tất cả chúng sinh đều đã là Phật rồi. Như thế, công đức nào đáng tích tụ, vì nó cũng chỉ là tâm?

31) Nhưng biết được các pháp là ảo ảnh hư vọng, có đủ để tiêu trừ ái dục phiền não không? Há chẳng thấy người phù thủy tạo ra một đàn bà huyễn rồi đem tâm yêu mến?

32) Trong trường hợp này, người phù thủy chưa diệt được những khuynh hướng ái nhiễm đ?i với trần cảnh. Khi nhìn người đàn bà huyễn (do chính mình tạo), khả năng thấy được Tánh Không của anh hãy còn quá yếu để có thể giúp anh nhớ lại thực tại.

33-35) Khi luyện tập, quán chiếu thành thói quen thấy được Tánh Không của các pháp thì sự bám víu, cho rằng chúng thực có, sẽ tan biến. Nhờ lập đi lập lại trong tâm: “các pháp không thực có”, cuối cùng ngay cả ý niệm về tánh Không cũng tan biến. Khi nói một vật không thực có (hiện hữu) có nghĩa là không thể tìm thấy nó sau cuộc khảo sát tối hậu. Khi không còn tìm ra được một sự hiện hữu nào có thể phủ nhận, thì nói chi đến sự không-hiện hữu? [8]. Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm thì không còn gì khác có thể khởi lên được nữa là lúc đó tâm sẽ hoàn toàn vắng lặng.

36) Cũng như ngọc Mani và cây Như Ý thành tựu những lời ước của chúng sinh, thân Phật vẫn ảnh hiện nhờ những lời nguyện xưa của ngài và lòng thành mong ước của các đệ tử [9].

37-38) Như Bà la môn Sanku tuy đã chết lâu rồi, nhưng cái hộp đựng tro Garuda [10] mà ông đã làm phép trì chú trước kia, vẫn có khả năng giải trừ nọc rắn. Cũng thế, sau khi thành tựu vô lượng hạnh nguyện Bồ Ðề, bậc Bồ Tát nhập Vô Dư Niết Bàn, nhưng xá lợi của ngài vẫn tiếp tục làm lợi ích chúng sinh.

39-40) Làm sao thờ lạy một tượng vô tri lại có thể đem lại phước báo? – Trong Kinh có nói, theo Tục Ðế và Chân Ðế, cả hai sự thờ lạy: khi đức Phật còn tại thế và khi ngài đã nhập Niết Bàn, đều phước đức như nhau. Các anh (Tiểu Thừa) chấp nhận thờ một đức Phật thật để được công đức thật thì chúng tôi thờ một đức Phật huyễn để được công đức huyễn, đâu có ngại gì?

41) – Người ta có thể giải thoát bằng sự giác ngộ Tứ Diệu Ðế cần gì phải quán chiếu Tánh Không? – Cần chứ! Vì theo kinh (Bát Nhã) quả Bồ Ðề không thể thành tựu nếu không có trí huệ Bát Nhã [11].

42) – Nhưng giáo lý Ðại Thừa không phải do Phật nói. – Thế thì kinh sách của các anh, ai chứng nhận (là do Phật nói)? – Kinh sách của chúng tôi đáng tin vì nó được chấp nhận bởi (ít nhất) hai người chúng tôi. Nếu vậy, trước khi được chấp nhận bởi các anh thì nó không đáng tin à? – Ðáng tin! Vì nó được truyền thừa không ngừng từ các bậc Trưởng Lão.

43) – Kiểu tin của các anh chẳng khác gì chúng tôi (Ðại Thừa), vì chúng tôi cũng được tổ tổ tương truyền. Hơn nữa, nếu các anh chấp nhận một điều cho nó là phải, vì được chấp nhận bởi hai người, thì các anh cũng phải chấp nhận luôn cả kinh điển Vệ Ðà và ngoại đạo.

44) – Kinh điển Ðại Thừa không đáng tin vì nó luôn bị tranh luận! – Nếu vậy thì cũng phải từ bỏ luôn cả kinh điển của các anh, vì nó cũng bị tranh luận bởi các nội phái và ngoại đạo.

45) Ðời sống xuất gia là nền tảng của sự tu hành, cũng như Niết Bàn, tuy vậy nó rất khó đối với những người tâm còn bám víu vào sự vật cho là thực có.

46-47) – Các bậc A La Hán tuy không hiểu được Tánh Không nhưng đã giải thoát đau khổ vì các ngài đã xả bỏ tất cả tà kiến bằng con đường thiền định quán chiếu về Vô Thường, Vô Ngã. – Nhưng ai dám bảo, khi vừa thành A La Hán Hữu Dư [12] là hết thọ khổ? Có nhiều vị, vì nghiệp lực quả báo quá khứ, vẫn còn thọ khổ như A La Hán Mục Kiền Liên.

48) – Tuy còn thọ khổ khi còn báo thân, nhưng khi xả bỏ báo thân, các ngài vĩnh viễn giải thoát vì không còn chấp vào các uẩn của thân và tâm nữa.

49) – Nhưng khi chưa xả bỏ báo thân thì còn cảm thọ, và như vậy tâm vẫn còn đối tượng (bám víu) cho rằng nó thực có.

50-51) Không hiểu Tánh Không thì tà kiến chỉ tạm lắng yên trong những cơn nhập định, sau đó sẽ tái khởi lại. Do đó, nếu muốn tận diệt khổ đau thì phải quán chiếu Tánh Không.

52-53) – Nhưng nếu hiệu lực của tham lam, sợ hãi là giam giữ chúng sinh trong luân hồi, thì hiệu lực của Tánh Không sẽ là cầm chân họ (trong luân hồi) vì cho họ ảo tưởng cứu độ kẻ khác.

54) – Lời chỉ trích trên không có nền tảng, do đó chúng ta không nên ngần ngại tu tập Tánh Không.

55) Tánh Không là liều thuốc đối trị vô minh (phát xuất từ ái dục và chấp pháp). Làm sao lơ là bỏ qua được, nếu muốn được nhất thiết trí?

56) – Tôi không muốn quán chiếu về Tánh Không vì nó làm tôi sợ! – Cái gì làm mình đau khổ thì sợ là phải. Nhưng Tánh Không (điều trị) xoa dịu đau khổ, tại sao lại sợ?

57) Người ta sợ cái này, cái kia vì cho và tin rằng cái Ta có thật (hiện hữu). Ðược! Nhưng đối với người đã hiểu cái “Ta” không có thật thì sợ cái gì? Ai sợ?

58-60) Răng, tóc, móng, xương, không phải là Ta, cái Ta cũng không phải là máu, mủ, đờm, mật, tạng, phủ, …, phân, tiểu, gân, hơi nóng, chín khứu, sáu thức.

61) Nếu nhĩ thức là Ta thì phải luôn nghe thấy âm thanh (ngay cả lúc nó không còn) chứ? Khi đối tượng nhận thức (trần cảnh) vắng mặt thì làm gì có nhận thức? [13]

62) Nếu gán sự biết (nhận thức) vào những gì không (có khả năng) biết thì cây gỗ kia cũng phải biết được chứ! Do đó không thể có sự nhận thức nếu không có đối tượng.

63) Tại sao cái Ta, khi thấy hình sắc lại không nghe được âm thanh? Các anh sẽ nói vì gần đó không có âm thanh. Và nếu vậy thì nó (cái Ta) không phải là nhĩ thức.

64) Cái mà tánh của nó là thâu nhận âm thanh, làm sao có thể thâu nhận được hình sắc? Ðồng ý là một người đàn ông, tùy trường hợp, có lúc được xem là cha, có lúc là con, nhưng theo Chân Ðế thì không thể như vậy được. Nếu các anh (Samkhya) cho rằng thực tại là một trạng thái hòa hợp quân bình giữa ba tánh: thanh tịnh, tạo tác, u mê thì không có gì được xem là cha hay con cả.

65) – Khi cái Ta đang thâu nhận âm thanh thì tánh thấy của nó không hoạt động. Và khi nó thấy thì đó là tánh nghe đã chuyển sang tánh thấy, cũng như một kịch gia thay đổi vai trò.

66) – Như vậy theo các anh (Samkhya) thì chính cùng một cái ta thâu nhận cảnh trần (sắc, thanh, hương, …) với nhiều tánh (không thực) khác nhau, nhưng thực tế nó vẫn có một tánh (thực có) độc nhất. Ðây là một điều mà các anh chưa hề tuyên bố trước đây!

67) Chắc chắn các anh sẽ không nói tánh này là huyễn. Thế thì thực tánh của nó là gì? Phải chăng đó là cái tánh biết (nhận thức)? Nếu vậy thì tất cả chúng sinh sẽ cùng là một thứ độc nhất!

68) Thêm nữa, tất cả chúng sinh hữu thức và vô thức cũng sẽ là một, bởi vì họ cùng hiện hữu. Nếu các tánh như thấy, nghe, biết, … được xem là không thực thì làm sao nền tảng của nó (cái Ta) lại được xem là thực có?

69) Một vật không có nhận thức thì không phải là Ta, vì nó không biết được sự vật cũng như khúc gỗ vậy. [14] – Nó biết được sự vật khi nó phối hợp với tâm thức. – Như vậy, khi không có tâm thức thì nó cũng tiêu diệt.

70) Các anh cho cái Ta là thường còn, không thay đổi. Thế khi phối hợp với tâm thức nó sẽ là gì? Nếu cho cái gì thường còn, không thay đổi, vô thức là ta thì hư không kia cũng được xem là ta.

71) – Nhưng nếu cái Ta vô thường thì sự liên hệ nhân quả sẽ không thành, bởi vì khi làm xong một hành động thì người tạo nghiệp không còn, vậy ai sẽ chịu quả báo.

72) – Nền tảng của người tạo nghiệp chính là năm uẩn đời này, nền tảng của người thọ quả báo là năm uẩn đời sau, hai cái khác nhau. Không có cái Ta nào tạo nghiệp và cũng không có cái Ta nào thọ quả báo.

73) – “Chính chủ nhân tạo nghiệp là người lãnh thọ quả báo chứ không ai khác” trong Kinh đã nói! – Ðức Phật có dạy như vậy, nhưng cốt để phá trừ sự chấp đoạn của người không tin nhân quả chứ không phải dạy cái Ta thực hữu thường còn.

74) Tâm niệm quá khứ cùng tâm niệm vị lai đều không thể là cái Ta vì chúng không (hiện hữu) có thực. – Nhưng tâm niệm hiện tại không thể là Ta à? – Cho dù nó là Ta nhưng khi vừa nghĩ xong thì nó cũng không còn.

75) Như cây chuối khi bị lột từng bẹ để tìm thì không thể thấy (đâu là cây chuối). Cũng thế, cái Ta hiện hữu như thực có, khi bị quán chiếu phân tách, không thể tìm thấy nơi năm uẩn.

76) – Nếu chúng sinh không có thật thì tu tập từ bi với ai? – Tuy không có thật (vì là ảo tưởng) nhưng chúng sinh là đối tượng lợi ích và cần thiết cho những ai tu tập Bồ Tát Hạnh.

77) – Nhưng nếu chúng sinh không có thật thì ai lãnh thọ phước báo sau khi tu hạnh từ bi? – Theo Chân Ðế tuyệt đối thì không có gì thực có, dù đó là chúng sinh, là từ bi hay phước báo; nhưng trên Tục Ðế, ảo tưởng, đối với người tâm còn lầm lẫn thực tướng các pháp thì phải cần tu tập từ bi huyễn vì nó cho ra phước báo huyễn.

78) Sự ái luyến chấp Ta thì ngược lại, tuy cũng là huyễn nhưng cần phải diệt trừ vì nó là nguyên nhân của đau khổ. Và để diệt trừ nó không có cách gì khác hơn là tu tập quán chiếu về Vô ngã.

79-80) Thân không phải là chân, đùi, hông, bụng, lưng, ngực, tay, vai, nách, cổ, đầu, … Vậy cái gì là thân? [15]

81) Nếu thân nằm trong tất cả bộ phận của nó thì hóa ra tất cả phần của thân nằm trong từng phần của thân sao? Còn cái thân tự tánh, hiện hữu độc lập nằm ở đâu?

82) Nếu cái thân là Một [16], có thật, nằm riêng biệt trong từng bộ phận thì như thế có bao nhiêu bộ phận thì phải có bấy nhiêu ấy thân.

83) Thân không nằm ở trong cũng không ở ngoài các bộ phận. Nhưng lìa các bộ phận ra, nó cũng không thể có (hiện hữu). Vậy nó hiện hữu kiểu nào?

84) Cái thân không có thật! Nhưng vì ảo tưởng lầm lẫn, ý niệm “thân” được gán vào những bộ phận (tay, chân,…) cũng như lầm tưởng cho cái cột là một người đàn ông.

85) Khi hội đủ nhân duyên đưa đến lầm lẫn thì người ta cho cái cột là người đàn ông. Cũng thế, khi còn nhân duyên đưa đến lầm lẫn thì người ta cho những bộ phận (tay, chân, …) là cái thân.

86) Như thân không thật có thì bàn tay cũng không có thật: chỉ có những ngón tay hợp lại với nhau. Ngón tay cũng không có thật, chỉ có những đốt xương và gân hợp lại với nhau, và những đốt xương này được cấu tạo bởi nhiều phân tử.

87) Những phân tử này lại được cấu tạo bởi nhiều nguyên tử, và những nguyên tử lại được chia chẻ ra theo sáu hướng [17], chia chẻ đến cùng cực (không còn chia chẻ được nữa) thì chỉ còn hư không trống rỗng. Cuối cùng, nguyên tử cũng không có thật.

88) Như vậy, hình sắc chẳng khác chiêm bao, bậc hiền giả nào lại muốn bám víu vào? Thân kia còn không có thật, nói chi đến (sự phân biệt) đàn ông hay đàn bà?

89) Nếu đau khổ có thật tự tánh thì sao nó không xúc động được người đang vui? Nếu những món ngon đem lại khoái lạc thì sao người đang sầu khổ ăn vào cảm thấy vô vị?

90) Người ta sẽ bảo rằng đau khổ và khoái lạc có thật, nhưng trong trường hợp trên, không được cảm thấy vì chúng bị một cảm giác mạnh hơn lấn át. Nhưng sao lại gọi là cảm giác khi tánh của nó không được người ta cảm thấy?

91) – Vẫn cảm thấy chứ! Vì khi khoái lạc thì cảm giác đau khổ nằm ở trạng thái yếu (vi tế). – Nhưng cảm giác vi tế này không thể là đau khổ vì một cảm giác không thể cùng lúc vừa là đau khổ vừa là khoái lạc được.

92) Nếu đau khổ không xuất hiện được nơi tâm vì lúc đó đang có một cảm giác đối lập thì cái gọi là cảm giác đau khổ chỉ là một ảo tưởng (tà kiến).

93) Ðể đối trị tà kiến này, chúng ta phải trau dồi trí huệ quán chiếu “tánh không thực có” của các pháp. Sự nhập định quán chiếu những ảo tưởng của tâm chính là món ăn độc nhất của hành giả Du Già [16].

94) Cảm thọ được xem là kết quả của một sự xúc chạm. Nhưng giữa căn và trần có một khoảng cách, vậy chúng làm thế nào xúc chạm được nhau? Và nếu không có khoảng cách thì chúng là một, nói giao hội đâu còn nghĩa lý?

95) Không thể nói đó là một sự xuyên nhập giữa các nguyên tử được, bởi vì nguyên tử không trống rỗng, cũng không có khía cạnh nên không có gì xuyên nhập được. Mà không có xuyên nhập thì không có hòa hợp, nếu không có hòa hợp thì không có cảm thọ [19].

96) Làm sao có được sự xúc chạm giữa hai vật không khía cạnh? Nếu có thì hãy chỉ cho chúng tôi biết [20].

97) Nói tâm xúc chạm vật cũng vô lý, vì tâm vô hình chất, không thể xúc chạm được với vật hữu chất.

98-99) Sự xúc chạm không thể có thì lấy đâu ra cảm thọ? Cảm thọ không có thật thì tội gì nhọc cầu khoái lạc? Lấy đâu ra đau khổ, và ai đau khổ? Không có ai là người cảm thọ và cũng không có gì là cảm thọ. Trước sự kiện này, ôi lòng khát ái, sao ngươi chưa tan biến đi?

100) Ta thấy và sờ mó được trần cảnh nhưng cảm giác chỉ là những ý niệm phát xuất từ tâm, chẳng khác gì ảo ảnh, giấc mơ. Nó không có thật!

101) Ta có thể nhớ lại cảm giác quá khứ hoặc thèm muốn cảm giác tương lai, nhưng đó không phải là một cảm giác mà là sự nhớ tưởng.

102) Cho nên không có người cảm thọ (thọ giả) nào có thật, cũng không có một cảm thọ nào thật có. Làm sao cái đám uẩn vô ngã này lại có thể có được cảm thọ khoái lạc hay khổ đau?

103) Thức không nằm trong căn, không ở nơi khác cũng không chính giữa. Tâm cũng thế, không nằm trong thân, ngoài thân hay ở nơi khác.

104) Không phải là thân cũng không phải khác; không phải trộn lẫn cũng không phải khác biệt (với thân) nên tâm không có thật. Do đó nói rằng tất cả chúng sinh đã Niết Bàn.

105-106) Ý thức có thể không có thật, nhưng chẳng lẽ năm thức kia (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân) cũng không có thật à? Muốn biết thì hãy phân tách xem năm thức đó có trước, cùng lúc hay sau cảnh vật? Nếu bảo có trước khi gặp cảnh vật thì nó nương đâu mà khởi? Nếu thức và đối tượng của nó phát sinh cùng lúc thì cũng thế, cả hai nương đâu mà khởi? Vì nếu cùng một lúc thì không thể nói cái này nương cái kia khởi. Và nếu thức phát sinh sau đối tượng thì nó nương đâu mà khởi? Vì khi nó khởi thì đối tượng đã không còn.

107) – Qua sự phân tách trên, ta hiểu là không có pháp nào thực sự phát sinh. Nhưng như thế làm sao có được Nhị Ðế ( Chân Ðế và Tục Ðế)? Và làm sao chúng sinh đến được Niết Bàn?

108) – Thật ra Niết Bàn thường hằng, nhưng vì không hiểu nên người ta lầm lẫn (khái niệm) cho rằng nó sinh khởi và hoại diệt. Chính sự khái niệm này là chân lý bao phủ (Tục Ðế). Người vào được tánh Niết Bàn vẫn hiện hữu qua sự ảo tưởng của kẻ khác (nhưng y không còn ảo tưởng).

109) – Tâm năng quán và vật sở quán nương nhau hiện hữu, nếu vật không có thật thì tâm cũng không có thật. Và nếu tâm không có thật thì sự phân tách lập luận Tánh Không của các anh cũng vô hiệu.

110-111) – Thật ra cả tâm và vật đều không có thật, nhưng không phải vì thế mà sự phân tách bị coi là sai. Bởi vì tất cả những tâm phân tách được xem là ý thức tương đối, dựa đặt trên nền tảng lập luận chấp nhận bởi thế gian. Khi vật sở quán bị phân tách và xác nhận là trống rỗng thì cái tâm năng quán (phân tách) kia trở nên mất đối tượng. Không có đối tượng thì tâm năng quán lấy đâu mà khởi? Trong trạng thái yên lặng, không còn vật sở quán và tâm năng quán, đó gọi là Niết Bàn.

112-114) Kẻ nào cho tâm và vật có thật thì kẻ đó lâm vào tình trạng khó xử. – Vật có thật vì căn (là nơi thức phát sinh) có thật. [21] – Nhưng sao một vật lại được xem là có thật nếu nó tùy thuộc vào thức? – Mặt khác, có thể nói thức có thật vì nó dựa trên vật. – Nếu cả hai nương nhau mà có thì cả hai đều không có thật. Thí dụ: một người không có con thì không thể được xem là cha; nếu không có cha thì làm gì có con? Như vậy tâm và vật không thể hiện hữu độc lập, riêng biệt.

115) – Cây sanh ra từ hạt, biết có hạt nhờ thấy cây. Sao không thể chấp nhận được tâm (nhận thức) có thật vì nó được phát sinh từ vật (bị thấy)?

116) – Sự có (hiện hữu) của hạt có thể chấp nhận được vì có tâm nhìn thấy cây. Nhưng ai (hay cái gì) biết được tâm thực có, phát sinh từ cảnh vật?

117) Một người thường, qua sự quán sát, cũng có thể nhận ra tính phức tạp của nhân: như những cánh sen phát xuất từ nhiều nhân khác nhau.

118) Tính phức tạp của nhân bắt nguồn từ đâu? Từ nhiều nhân trước. Tại sao nhân này lại cho ra quả kia? Ðó là do ảnh hưởng của nhân trước nữa.

119) Nếu cho Trời là nguyên nhân của thế giới thì Trời là gì? [22] – Là tất cả đại (nguyên chất): đất, nước, lửa, gió, hư không. – Ðược! Nhưng nếu vậy cần gì phải đặt tên những thứ ấy là Trời?

120) Hơn nữa, những thứ: đất, nước, v.v… nhiều loại, vô thường, vô tri, bất tịnh, không có gì thần thánh, sao lại gọi là Trời?

121) Hư không không phải là Trời, vì nó bất động; cái Ta cũng không phải, vì trước đây nó đã bị chúng tôi phủ nhận. Nếu không thể diễn tả, chỉ đâu là Trời thì nói chi đến sự sáng tạo của Trời?

122) Theo các anh thì Trời đã tạo những gì? Cái Ta à? Các anh nói nó thường hằng mà, đâu cần tạo. Tứ đại à? Chúng cũng thường hằng mà. Trời à? Trời cũng thường hằng mà. Thức à? Nó phát sinh từ đối tượng nhận thức. Sung sướng và khổ đau à? Ðó là kết quả của nghiệp lành và ác. Như vậy Trời tạo cái gì?

123) Nếu Trời là nguyên nhân đầu tiên, không có đầu mối (vô thỉ) thì kết quả, là các pháp, làm sao có đầu mối được?

124) Trời không bao giờ hết (vô chung) thì sao những sự sáng tạo của Trời lại lúc có lúc không? – Trời không bắt buộc phải luôn luôn tạo ra một cái gì, và tuy thường còn nhưng khi tạo ra một cái gì, Trời cũng phải tùy nhân duyên. – Nói Trời tùy thuộc một cái gì thì vô lý, vì không có cái gì mà không được tạo ra bởi Trời.

125) Nếu bảo những sự vật kia là do nhiều trợ duyên phối hợp thì Trời không còn là nguyên nhân nữa. Vì khi hội đủ nhân duyên thì dù Trời không có mặt, sự vật vẫn thành. Khi thiếu nhân duyên thì dù Trời có mặt, sự vật cũng không thành.

126) Nếu sự vật thành hình ngoài ý muốn của Trời thì hóa ra Trời không có quyền (tự chủ) gì. Nếu bảo là do Trời muốn thì Trời lại lệ thuộc vào ý muốn của ông ta. Như vậy còn đâu là ông Trời chúa tể sáng tạo, độc lập, tự chủ?

127) Có kẻ [23] cho rằng thế giới hữu tình và vô tình này là do các nguyên tử thường hằng cấu tạo thành. Lập luận này đã bị chúng tôi phủ nhận.

128) Phái Samkhya cho rằng trạng thái dung hòa giữa ba tánh: bình đẳng, khoái lạc và khổ đau, chính là bản chất nguyên thủy của thế giới. Khi ba tánh này mất quân bình thì lúc đó thế giới bắt đầu thành hình.

129) Một vật nếu thực có thì không thể có ba tánh cùng một lúc, do đó cái bản chất nguyên thủy kia không có thật. Và ba tánh trên cũng không có thật, vì nếu có thật thì mỗi tánh sẽ biến thành ba.

130) Như ba tánh này không có thật thì âm thanh cùng trần cảnh (đối tượng của căn) cũng không có thật. Ngoài ra ba tánh này cũng không thể nào có được trong những vật vô tri như quần, áo, v.v…

131) Phải chăng các anh muốn nói là đồ vật như quần áo, tánh của nó là tạo ra khoái lạc, v.v…? Nhưng chúng tôi đã dẫn chứng sự không thực có của chúng rồi. Hơn nữa theo các anh thì khoái lạc là nhân của quần áo chứ quần áo đâu phải là nhân của khoái lạc.

132) Nhưng thật ra khoái lạc phát sinh từ quần áo, vì nếu không có quần áo thì làm gì có khoái lạc. Như vậy tánh khoái lạc, v.v… không thường hằng!

133) – Khi khổ thọ phát sinh thì người ta không cảm thấy được tánh khoái lạc, vì lúc đó khoái lạc trở thành vi tế. – Nhưng cái gì thường hằng làm sao có thể biến đổi từ thô mạt đến vi tế?

134) Nếu chuyển từ thô mạt đến vi tế thì nó là vô thường. Như vậy tại sao các anh không chịu chấp nhận mọi sự vật đều vô thường? – Tuy những trạng thái thay đổi của khoái lạc là vô thường nhưng tánh của nó vẫn là thường. – Nhưng những trạng thái vi tế, thô mạt chẳng phải khác khoái lạc, nên khoái lạc cũng vô thường.

135) Nhưng các anh sẽ nói: vật gì trước kia không có thì nay không thể sinh ra (có) được, cũng như dầu không có trong cát nên ép cát không thể cho ra dầu được. Thế mà các anh lại chấp nhận cho trạng thái thô mạt là có trong khi trước đó nó chưa có.

136) Nếu nói quả đã có sẵn trong nhân thì hóa ra ăn cơm chẳng khác ăn phân. Và thay vì mua hàng vải, người ta có thể mua bông vải để mặc.

137) – Sự thật là thế nhưng người thế gian si mê không chịu mặc những bông vải vì họ không thể thấy được hàng vải trong ấy. – Nói vậy, thế sao Kapila [24], người mà các anh cho là đã thấy chân lý, lại mặc hàng vải mà không mặc bông vải?

138) Hơn nữa, theo các anh thì người thấy được chân lý (là quả) đã hiện hữu sẵn trong một người thường (là nhân), như vậy sao những người thường không thấy được hàng vải trong bông vải? – Thật ra người thấy chân lý đã có sẵn nơi nhân, nhưng khi còn ở trạng thái nhân (tức người thường) thì mọi sự thấy biết đều lầm lẫn. – Nếu vậy thì những sự vật mà người ta thường nhìn thấy như: hàng vải, đồ ăn, người thấy chân lý, v.v… đều không thực, vì chúng chỉ là sự ảnh hiện của cái tâm lầm lẫn.

139) – Nếu theo các anh (Trung Quán), tất cả phương tiện dẫn đến trí huệ đều vô hiệu vì nó cho ra những khái niệm sai lầm thì Tánh Không các pháp cũng là một lập luận vô hiệu.

140) Nếu không giả dụ một sự thực có thì không thể suy ra sự không thực có. Do đó, nếu Tánh Có không thực thì Tánh Không cũng không thực. Tuy nhiên quán chiếu về Tánh Không vẫn có hiệu lực vì nó là phương thuốc đối trị bịnh chấp (các pháp thực) có.

141) Khi một người chiêm bao thấy con mình bị chết, ý nghĩ cho con thực chết tuy sai lầm nhưng phá trừ được ý nghĩ cho con còn sống.

142-143) Tóm lại qua sự phân tách trên, không có vật nào hiện hữu không nhân, cũng không có nhân độc nhất ban đầu nào được tìm thấy. Các pháp không sanh từ một vật khác, không tồn tại, không tiêu diệt. Những cái mà kẻ ngu bám víu cho là thực có, có khác gì ảo ảnh, huyễn thuật?

144) Ðến từ đâu? Ði về đâu, những vật đuợc tạo ra bởi huyễn thuật, bởi nhân duyên? Ðó là điều cần phải tìm kiếm.

145) Ðủ duyên thì hiện (như có), thiếu duyên thì mất. Nó do nhân duyên giả hợp, như bóng trong gương, làm sao thực có (tự tánh) độc lập được?

146-147) Một vật nếu thực có thì cần gì đến nhân? Nếu nó không thực có thì cũng cần gì đến nhân? Dù một trăm triệu nhân hợp lại cũng không thay đổi được hư vô. Vật hư vô nào biến thành có được?

148) Có cái gì tách rời được trạng thái không-vật để trở thành vật được? Vật và không-vật không thể hiện hữu cùng một lúc. Vật chỉ xuất hiện khi không-vật mất đi, nhưng không-vật làm sao mất đi được khi vật chưa sinh ra?

149) Cũng vậy, chúng sinh (vật) không thể đến hay đi về hư vô (không-vật). Vì một vật thực có không thể có hai tánh.

150-151) Cho nên không có chấm dứt cũng không có hiện hữu. Pháp giới không sinh cũng không diệt. Chúng sinh tuy xuất hiện nhưng không có thật, như chiêm bao. Khi quán chiếu phân tích thì chẳng thấy, như cây chuối. Trong Tánh Không (thực có của chúng sinh), không có sự khác biệt nào giữa người đã vào Niết Bàn và người chưa vào Niết Bàn.

152-153) Các pháp không thực có, lấy gì để được để mất? Ai được khen được chê, và bởi Ai? Ðến từ đâu khoái lạc và khổ đau? Ai là người dễ thương, là người đáng ghét? Khi tìm thực tánh thì Ai là người ham muốn và ham muốn cái gì?

154) Nếu quán sát thế giới hữu tình này thì Ai chết? Ai sinh? Ai đã sinh? Ai là cha mẹ, là bạn bè?

155-156) Hỡi các bạn đang quán chiếu thực tại, hãy hiểu rằng tất cả đều trống rỗng như hư không. Vì muốn tìm sung sướng hạnh phúc, chúng ta đã phí phạm cuộc đời trong cảnh tranh giành, thất vọng, lo âu, buồn bã, thương kích lẫn nhau.

157-158) Nếu may mắn tái sinh cảnh trời hưởng thọ khoái lạc, khi chết cũng rơi vào địa ngục muôn kiếp, chịu hành hạ đau đớn khổ sở. Trong cảnh luân hồi làm sao thoát khỏi hố thẳm đọa đày?

159-161) Thêm nữa, sự chấp pháp (thực có) và sự thấu hiểu tánh Không luôn chống trái lẫn nhau. Nếu trong đời này không thấu đạt chân lý tuyệt đối thì sẽ phải tiếp tục trầm luân trong biển khổ vô bờ. Vì nếu không thấu hiểu tánh Không ta sẽ không có can đảm tu tập vô số hạnh lành. Trong cái kiếp người hy hữu đầy đủ tự do quá ngắn ngủi này, con người chỉ lo hưởng thụ, chăm sóc thân thể, ăn ngon, ngủ sướng, lo sợ đói bịnh, tai nạn và chuyên giao du với những kẻ ngu. Cứ thế cuộc đời trôi mau, tìm được một chút thì giờ quán chiếu thực tại quả thật rất khó! Tìm đâu ra cơ hội đảo ngược cái thói quen vô thỉ chuyên chấp trước các pháp (cho chúng thực có)?

162-163) Thêm nữa, Ma Vương lại luôn rình rập xô đẩy ta vào địa ngục. Ðường dẫn đến tà kiến thì đầy dẫy. Tìm lại được thân người hy hữu này rất khó, gặp được Phật lại khó hơn nữa; như thế làm sao thoát khỏi giòng thác ái dục, phiền não. Ôi! Chỉ toàn khổ là khổ!

164-165) Ðáng thương thay cho những kẻ xấu số bị lôi cuốn trong giòng thác khổ mà chẳng hề hay biết. Cũng như người mỗi lần tắm, thay vì nhảy vào nước, lại nhảy vào lửa.

166) Có những người làm như mình không bao giờ già, không bao giờ chết. Ðó là những kẻ được tử thần đến dẫn đi sớm nhất về cõi ác.

167) Khi nào ta mới dập tắt được lửa phiền não thiêu đốt chúng sinh đau khổ bằng những trận mưa an lạc tuôn chảy từ đám mây công đức của ta? Khi nào ta mới có thể giảng dạy tánh Không cho những kẻ đau khổ đáng thương, dạy họ tích tụ công đức mà không chấp các pháp thực có?

Chú thích:

[1] Còn gọi là chân lý “lầm lẫn” vì nó được đặt ra bởi những trí óc lầm lẫn của thế gian, bao phủ bởi vô minh. Danh từ thông dụng gọi là Tục Ðế và Chân Ðế.

[2] Trong bản Tạng ngử gọi là Naljorpa, tức người tu tập Du Già hay Thiền quán.

[3] Vô thường.

[4] Ðây là cuộc tranh luận giữa tôn giả Santideva (Trung Quán) và các nhà Duy Thức. Theo Duy Thức thì các pháp bên ngoài là ảo tưởng không thực có, chỉ có tâm là hiện hữu thực sự.

[5] Bất thụ: không thể đẻ con.

[6] Tánh tự biết, trong Duy Thức gọi là tự chứng phần.

[7] Một con gấu ngủ suốt mùa đông, bị vết cắn của con chuột làm độc mà không hay. Sang xuân, khi nghe tiếng sấm tỉnh dậy thấy đau, nó mới nhớ lại là đã bị chuột cắn. Sự nhớ lại (ký ức) của con người cũng tương tự như thế.

[8] Theo truyền thuyết, khi nói tới đây, tôn giả Santideva bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho tới câu kệ cuối cùng.

[9] Ở đây tôn giả tranh luận với Tiểu Thừa. Theo Tiểu Thừa, khi Phật nhập Niết Bàn thì ngài không còn làm lợi ích cho chúng sinh được nữa.

[10] Kim sí điểu, chim đại bàng hay ăn rồng, rắn

[11] Tức trí huệ thấu hiểu Tánh Không của các pháp.

[12] Tức còn báo thân ngũ uẩn.

[13] Ở đây tôn giả Santideva tranh luận với phái ngoại đạo Samkhya (Số luận).

[14] Ở đây tôn giả tranh luận với phái ngoại đạo Nyaya (Chánh lý luận). Phái này cho cái ta có thực thể thường còn, nhưng không nằm trong thân thể con người. Cái Ta này biết được sự vật vì nó có một cái tâm riêng biệt (nhưng nó không phải là tâm). Muốn biết qua các phái ngoại đạo này, bạn đọc có thể xem trong quyển Phật Học Tinh Yếu.

[15] Ở đây tôn giả tranh luận với Tiểu Thừa. Tiểu Thừa cho cái Ta không có thật, nhưng các pháp như năm uẩn, thân, … có thật.

[16] Theo Trung Quán, một vật có thật, có tự tánh còn được gọi là Một, có nghĩa là tự nó là nó, không phải do nhiều thứ khác kết hợp thành.

[17] Ðông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới.

[18] Ðừng lầm lẫn cho Du Già (Yoga) là đặc biệt của Ấn Ðộ Giáo (Hindouisme) vì trong Phật Giáo cũng có phái Du Già Sư (Yogacara) là một phái của Duy Thức. Hành giả Du Già ở đây có nghĩa là người chuyên tu Thiền Quán.

[19] Ở đây bác sự cho rằng: nguyên tử của trần cảnh và của căn giao hội lẫn nhau phát sinh ra cảm thọ.

[20] Bác những người cho nguyên tử không có khía cạnh.

[21] Bác lập luận Hữu Bộ cho tâm và vật là hai thực thể cách biệt..

[22] Bác Thần Giáo, cho Trời hay thần Isvara là người sáng tạo ra thế giới.

[23] Thuộc phái ngoại đạo Mimamsaka (Thanh Thường Trú) và Vaiceshika (Thắng Luận).

[24] Kiếp Tỷ La, giáo chủ phái Samkhya

Chương 10

Hồi hướng công đức

1) Do công đức biên tập Bồ Tát Hạnh này, nguyện cho tất cả chúng sinh đều bước chân trên Bồ Tát đạo.

2) Nguyện cho tất cả chúng sinh, bất cứ nơi đâu, đang bị đau khổ hành hạ thân và tâm, nhờ công đức này, đều được biển an lạc, sung sướng.

3) Ngày nào (họ) còn ở trong luân hồi, ngày đó hạnh phúc của họ không bị tiêu giảm. Nguyện cho họ luôn thành tựu được sự an vui của chư Bồ Tát.

4) Nguyện cho tất cả chúng sinh trong địa ngục đều hưởng được niềm vui sướng của Cực Lạc (Sukhavati).

5) Cho kẻ rét lạnh được sưởi ấm, kẻ nóng khát được mây vô lượng công đức của chư Bồ Tát đổ mưa tưới mát.

6) Cho rừng hoa đao kiếm biến thành vườn hoa đẹp Nandana [1] và những cây gai nhọn biến thành cây thành tựu điều ước.

7) Cho những biên ngục trở thành hồ sen rực rỡ thơm ngát với những đàn thiên nga, bạch hạc.

8) Cho đống than hồng biến thành ngọc báu. Cho mặt đất nóng bỏng trở thành cẩm thạch. Cho những “núi đè người” ở địa ngục hóa thành cung điện chư thiên, thờ phụng các đấng Thế Tôn.

9) Cho những trận mưa than, kiếm, đá lửa biến thành mưa hoa. Cho những trận chém giết bằng đao, gươm biến thành trận hoa chiến.

10) Cho những kẻ trầm mình trong sông Vaitarani, da thịt rách nát lộ xương trắng như hoa huệ, nhờ phước lực của ta, đều được thân trời, vui chơi với thiên thủy thần trong sông Mandakini [2].

11) Cho vệ sĩ của Diêm Vương cùng đàn quạ và diều hâu ghê tởm, bất thình lình thấy bóng đêm tan biến, sợ hãi hỏi nhau: “Ánh sáng êm dịu, nhẹ nhàng này từ đâu đến?”. Và kìa! Ngửng mặt lên, thấy Kim Cang Tạng Bồ Tát (Vajrapani) huy hoàng đứng trên không, chúng cảm thấy trút hết tội lỗi và mừng rỡ bay theo ngài.

12) Và đây một trận mưa hoa sen và hương thủy. Ôi, sung sướng! Khi thấy ngọn sóng lửa địa ngục bị dập tắt, những kẻ tội nhân kia tự hỏi: “Ai đã làm thế?”. Ngay đó Liên Hoa Tạng Bồ Tát (Padmapani) liền xuất hiện.

13) “Anh em ơi, đừng sợ hãi, hãy mau mau lại đây! Có vị Vương Tử Bồ Tát choàng khăn [3] đến cứu chúng ta đây rồi! Ngài có thần lực bảo vệ chúng sinh, tiêu diệt phiền não, đem lại an vui”.

14) “Hãy nhìn kìa! Trên những tòa sen nơi chân ngài óng ánh vương miện của chư thiên đang đảnh lễ ngài; mắt ngài long lanh lệ từ bi, trên đầu ngài mưa hoa rơi từ những cung điện văng vẳng tiếng hát của muông ngàn thiên nữ đang xưng tán ngài. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đó!”. Thấy ngài như vậy, những tội nhân kia mừng rỡ reo hò.

15) Do công đức của ta, cầu cho tất cả tội nhân địa ngục được vui mừng thấy Phổ Hiền và chư Bồ Tát hóa hiện những đám mây hương thủy thanh lương đổ tràn xuống họ, dập tắt đau khổ phiền não.

16) Cầu cho tất cả chúng sinh nơi địa ngục mau giải thoát, an vui.

17) Cho loài súc sanh không còn cắn xé lẫn nhau; cho loài ngạ quỷ được sung sướng như người ở Bắc Câu Lư Châu (Uttarakuru).

18) Cho loài ngạ quỷ được no đủ, tắm mát và giải khát trong suối sữa chảy từ tay Quán Thế Âm Bồ Tát.

19) Cho kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe; cho những đàn bà mang thai, sinh con không đau đớn như hoàng hậu Ma Gia.

20) Cho kẻ rách được y phục, kẻ đói được thức ăn, kẻ khát được nước uống, kẻ nghèo được tiền của.

21) Kẻ yếu thế được bảo vệ, người buồn bã được yên vui, kẻ lo âu được may mắn hạnh phúc.

22) Cho bịnh nhân được bình phục, tù nhân được tự do, tất cả đều thương yêu lẫn nhau.

23) Cho tất cả du khách, dù đi bất cứ nơi đâu đều gặp an ổn thuận tiện.

24) Cho người thủy thủ lưới được những gì mong muốn và trở về bình yên, đoàn tụ gia đình.

25) Cho những kẻ lang thang trong rừng, gặp được đoàn du khách cùng đi không mệt, không sợ trộm cắp, thú dữ.

26) Cho những Hộ Thần luôn bảo vệ người già, kẻ điên, người yếu vía, kẻ bị bỏ rơi trong cơn hiểm nghèo của bịnh tật hay rừng hoang.

27) Cho chúng sinh không bị ràng buộc, có đủ đức tin, trí huệ, lòng thương người, vui vẻ, chánh nghiệp, và chánh niệm.

28) Cho chúng sinh không ham muốn nhiều tiền của mà chỉ thích kho tàng vô tận là hư không và tự do, sống trong hòa thuận và độc lập.

29) Cho kẻ tu hành yếu đuối có nhiều nghị lực. Nếu thân thể xấu xí sẽ được đẹp đẽ.

30) Cho tất cả người nữ được trở thành nam, những người thấp kém trở nên thanh cao và không kiêu ngạo.

31) Do công đức, phước lực của ta, cầu cho tất cả chúng sinh xa kìa mọi tội ác, suốt đời tu tập hạnh lành.

32) Cầu cho tất cả chúng sinh không bao giờ lìa bỏ tâm Bồ Ðề, luôn luôn hành hạnh Bồ Tát, thường được chư Phật gia hộ không rơi vào bẫy của Ma Vương.

33) Cho tất cả mạng sống được dài lâu, muôn đời hạnh phúc, không còn nghe thấy danh từ “chết”.

34) Cho mười phương hư không đầy dẫy chư Phật và Bồ Tát, xuất hiện trong những vườn hoa tuyệt đẹp, có âm thanh êm dịu tuyên nói chánh pháp.

35) Cho toàn cõi mặt đất không gồ ghề đá sỏi, bằng phẳng, êm dịu như lòng bàn tay và đầy dẫy ngọc báu.

36) Cho các đại hội Bồ Tát mở khắp nơi, trang nghiêm mặt đất bằng hào quang của các ngài.

37) Cho tất cả chúng sinh đều nghe tiếng pháp âm vi diệu phát ra không ngừng từ các loài chim, cây, ánh sáng tỏa khắp bầu trời.

38) Cho chúng sinh luôn được ở gần chư Phật, Bồ Tát; luôn xưng tán bậc Thiên Nhân Sư bằng những đám mây cúng dường.

39) Cho mưa thuận gió hòa, lúa mạ phì nhiêu, mùa màng tươi tốt, vua hiền thương dân, quốc gia thịnh vượng.

40) Cho cây cỏ đều là linh dược, thần chú được thành công; các Nữ thần, La Sát, ma quỷ đều thấm nhuần tâm từ bi.

41) Cho không còn một chúng sinh nào đau khổ, tội lỗi, bịnh tật, thua thiệt, chán nản.

42) Cho chùa và Tu viện là những nơi tu học được thanh tịnh, phát triển. Tăng Già luôn hòa hợp và thành tựu mục đích.

43) Cho các Sư Tăng được nhiều trí huệ, ham thích tu học, tìm được những nơi thanh vắng, tu tập thiền định với tâm tỉnh thức không loạn tưởng.

44) Cho các Sư Ni được bố thí đầy đủ, sống không tranh chấp, cãi vã, phiền não. Cho tất cả hàng xuất gia đều giữ giới cẩn thận.

45) Cho kẻ phạm giới biết nhận lỗi và sám hối không tái phạm. Cho những ai giữ giới thanh tịnh chóng thành Ðạo quả.

46) Cho các bậc xuất gia đều là hiền giả, được kính trọng, bố thí, tư cách trong sạch, vang danh bốn phương.

47) Cho chúng sinh không còn khổ địa ngục, không gặp chướng ngại khó khăn. Với một thân độc nhất (hơn cả chư thiên) này liền có thể thành Phật.

48) Cho tất cả chúng sinh luôn cúng dường xưng tán chư Phật và hưởng niềm an lạc vô tận, bất khả tư nghì của chư Phật.

49) Cho những đại nguyện của chư Bồ Tát thành tựu chúng sinh. Cho những tâm niệm của các Ðấng Bảo Vệ [4] thành tựu thế gian.

50) Cho các bậc Thanh Văn, Bích Chi luôn an vui, được Trời, Người, A Tu La cung kính cúng dường.

51) Cho tới khi nào chứng được Hoan Hỷ Ðịa [5], ta luôn được Văn Thù Bồ Tát gia hộ, thường nhớ lại tất cả đời quá khứ; đời nào cũng xuất gia thọ giới tu hành chánh niệm.

52) Trong tất cả tư thế, thời gian ta đều giữ được định lực. Trong tất cả kiếp tái sinh, ta đều tìm được nơi thanh vắng để tu hành Phật Pháp.

53) Nguyện khi muốn hiểu hay hỏi điều gì, ta liền được thấy đấng Thủ Hộ Vương Văn Thù Sư Lợi hiện đến trước mặt.

54) Như Văn Thù Bồ Tát đi khắp mười phương, thành tựu lợi ích cho vô lượng chúng sinh, nguyện cho hạnh của ta cũng được như của ngài.

55) Ngày nào hư không và chúng sinh còn, ngày đó ta còn tiếp tục tiêu trừ phiền não thế gian.

56) Nguyện cho tất cả khổ đau của thế gian đều chín mùi nơi ta. Nhờ hạnh-nguyện-lực của chư Bồ Tát, cầu cho chúng sinh thảy đều được an vui.

57) Cho giáo pháp, nguồn gốc của tất cả hạnh phúc, liều thuốc duy nhất giải trừ đau khổ, được trường tồn, xưng tán, hộ trì.

58) Tôi xin đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi, nhờ ơn Ngài mà tâm tôi hướng thiện. Tôi xin xưng tán bậc Thánh Trí toàn thiện, nhờ ơn Ngài mà tâm tôi tăng trưởng.

Chú thích:

[1] Nandana: vườn hoa cung trời Ðế Thích (Indra).

[2] Vaitarani: sông ở địa ngục. Mandakini: sông ở cảnh trời.

[3] Tức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjusri).

[4] Gonpo: đấng Thủ Hộ, tức là chư Phật, Bồ Tát.

[5] Pramuditabhumi: Sơ địa của Bồ Tát.

 

NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


Tâm nguyện:
Đường luân hồi con đi mòn mỏi
Dưới Phật đài con xin nguyện Quy Y.

Pháp môn Tu:
Trì chú Như Ý Đại Bi Tâm Đà La Ni và Niệm Phật A-Di-Đà nhất tâm bất loạn.

Tâm trạng:
Thân tuy còn ở Ta bà, mà lòng đã gửi bên toà Liên hoa

Sống là động nhưng lòng luôn bất động
Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
Tâm Bất Biến Giữa Dòng Đời Vạn Biến.

Vụng Tu
Bao ngày khăn gói kiếm đường tu
Biết ở non cao chốn khói mù
Cốc tự nằm trong rừng lá thấp
Am thiền ở cạnh gốc mù u
Leo đồi vững chí mưa che nón
Vượt suối bình tâm nắng đội dù
Mấy tháng đi tìm sao chả thấy
Thôi đành trở lại chốn an cư

Mục tiêu ngàn kiếp:
PHƯỚC HUỆ SONG TU
Thâm nhập Kinh tạng, Trí Tuệ như Hải

Ở trọ trần gian:
Nay đây mai đó, mỗi năm ở thuê mỗi nhà

Quê Nhà:
Tây Phương Cực Lạc

Phật lịch: 2556 - Dương lịch: 2012.

Thân: Nữ
"Trong tính bình đẳng của tất cả chúng sanh, không có tướng nam hay tướng nữ".

Sinh Thời: Mạt Pháp sinh sau Đức Phật nhập diệt hơn 2500 năm :(

Sống Đời, Vui Đạo Hãy Tùy Duyên

Đói Thì Ăn No, Mệt Ngủ Liền

Của Báu Trong Nhà Đừng Kiếm Nữa

Đối Cảnh Vô Tâm, Hỏi Chi Thiền

Trên thế gian này có những khổ đau mà đôi khi, tự thân con người không thể giải quyết được, nên nhờ đến sự tha lực của chư Phật và Bồ tát, nương vào hình tượng và giáo pháp các ngài để làm xoa dịu bớt nỗi đau khổ. Do đó mà mọi người đem hết lòng tin vào Tam Bảo, kính ngưỡng và quy y tu tập. Nếu người nào hay thọ trì danh hiệu Bồ Tát và Phật, mà không nuôi dưỡng hạt giống thuần thiện thì ước nguyện khó có thể thành tựu. Do đó mà hành giả nên quay về với nội tâm, quán chiếu tự ngã để thành tựu tri kiến, giải thoát mọi sự khổ đau trong cuộc đời (from Tịnh Xá Ngọc Minh)

CHÚNG SANH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ
PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN
PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC
PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH.

Mỗi người nghe giáo pháp của Phật sẽ hiểu khác nhau tùy theo căn tánh và khả năng. Dù giáo pháp có được trình bày hùng hồn thế nào, nếu người nghe chỉ mang quan điểm hẹp hòi của Thanh văn hay Bích chi thì cũng không thể hiểu giáo pháp Ðại thừa của Đức Phật. Mặt khác, nếu người này có tâm hồn rộng rãi có thể phóng tầm nhìn ra ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, người ấy sẽ chứng nghiệm được ý nghĩa chân thật của Phật không gì khó khăn. Ðoạn kinh này là đoạn nhắc nhở cho chúng ta, những người tầm cầu giáo pháp, rằng một thái độ rộng rãi và cởi mở quan trọng như thế nào.

ĐÃ CÓ BAO NHIÊU NGƯỜI QUAN TÂM ĐẾN ĐẠO PHẬT?

  • 2,901 hits

CHÚNG SANH BỊ BỆNH

Đức Phật dạy: "Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút".

BỒ TÁT CŨNG MANG BỆNH

Do từ si mê sinh ra ái, từ đó mà bịnh tôi phát sinh. Vì tất cả chúng sanh bệnh, nên tôi bệnh. Nếu bệnh của chúng sanh không còn, thì bệnh tôi không còn. Vì sao? Vì Bồ tát đi vào trong sanh tử vì lợi ích chúng sanh. Vì có sanh tử nên có bệnh. Nếu chúng sanh không còn bệnh thì Bồ tát không còn bệnh. Ví như ông trưởng giả chỉ có một người con. Nếu người con bệnh thì cha mẹ bịnh theo, nếu con lành bệnh thì cha mẹ lành bệnh. Bồ tát cũng như thế, thương tất cả chúng sanh như con. Nếu chúng sanh bệnh thì Bồ tát bệnh, nếu chúng sanh lành thì Bồ tát lành. Ngài hỏi tôi: ‘Nguyên do từ đâu mà tôi bị bệnh?’ Bệnh của Bồ tát là do tâm đại bi
(Duy Ma Cật sở thuyết)

TIN PHẬT HAY KHÔNG?

Tin Phật hay không đó là 1 sự kiện tạm thời trong tâm thức. Có Phật hay không cũng chỉ là tâm thức phản ánh sự việc. Chân lý tồn tại bất chấp tâm thức nghĩ gì. Phật Thích Ca Mâu Ni là nhân vật có thật trong lịch sử, xá lợi (xương cốt) của Ngài còn lưu giữ bên Ấn Độ. Nếu bạn đọc Kinh sẽ thấy được nhiều phát minh khoa học chẳng qua là sự lặp lại những điều ngài nói: như thuyết tương đối, thiên văn học, tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, nhân cách học... Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật...(from phuoctamca)

Bất Nghi - Bất Ngộ

Tiểu Nghi - Tiểu Ngộ

Đại Nghi - Đại Ngộ

"Chúng ta tu hành cũng vậy, khi chưa ngộ thì gian nan lắm. Nhưng ngộ được tri kiến Phật, ta không còn nhu cầu gì, mà tất cả Phật sự tự nhiên tới và thành tựu tốt đẹp. Còn cần cầu sẽ rơi vô tham vọng, chẳng được gì, chỉ toàn là phiền não.

Trên bước đường tu, chúng ta tìm Phật trong chùa, trong kinh, sẽ gặp được thiện tri thức chỉ dạy. Nếu tu Pháp Hoa, gặp được thiện tri thức lớn nhất là Phổ Hiền Bồ tát sẽ tới với chúng ta. Kinh Pháp Hoa nói rõ điều này, khi có Phổ Hiền Bồ tát xuất hiện thì người chống đối sẽ trở thành người hộ pháp. Nhận chân yếu nghĩa này, hành giả Pháp Hoa không sợ người chống đối, nhưng sợ mình không ngộ đạo. Nếu ngộ, thì Phổ Hiền đến giúp đỡ. Nếu gặp ác ma, Phổ Hiền dùng sức thần thông hộ trì diệu pháp, nghĩa là Ngài biến ác ma thành pháp lữ" (Giác Ngộ Online)

THỜI MẠT PHÁP

Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong Kinh Niết Bàn có chép: "Trong thời Mạt Pháp sẽ có mười hai vạn (120.000) vị Đại Bồ Tát trì Pháp, khiến cho bất diệt."

Phật Pháp chưa diệt, Tăng tự diệt,

Đạo đức cần tu, chẳng ai tu,

Thành thật chân chánh, bị chế diễu,

Gian ngoa xảo trá, được tán dương.

Muốn đời Ngũ Trựơc nên tươi sáng,

Chúng sanh tỉnh hẳn ba lần mê,

Ân cần nhắn nhủ Tăng Ni trẻ:

Chấn hưng Phật Giáo cậy Tỳ Kheo!

Hòa Thượng Hư Vân đã nói:

"Nho sĩ là tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật." Ngài còn nhấn mạnh: "Kẻ hủy diệt Phật Pháp chính là giáo đồ của Phật Giáo, chứ không phải các giáo phái khác. Kẻ làm cho Lục Quốc diệt vong chính là Lục Quốc, chứ không phải nhà Tần. Kẻ làm suy sụp nhà Tần chính là nhà Tần, chứ không phải Lục Quốc vậy."

"Cách ba bước là có một tịnh xá, đi năm bước là gặp một ngôi chùa lớn – mọi người đều ra sức tổ chức Pháp hội, siêu độ vong linh, làm lễ quán đảnh, truyền Pháp, xây chùa..., mà chẳng hay biết gì về việc hoằng dương giáo nghĩa, hướng dẫn chúng sanh làm thế nào để chấm dứt sanh tử! "

"Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là giáo dục, làm cho tất cả chúng sanh đều có trí huệ, có Trạch Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng phải một mực chú trọng về việc xây chùa dựng miếu, tổ chức Pháp hội!"

Trong đời Mạt pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi. (Kinh Đại Tập)

Mạt pháp về sau, các Kinh diệt hết, chỉ còn lưu bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa Địa ngục. (Thiên Như Thiền Sư)

Đời tương lai Kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng Từ bi thương xót, riêng lưu trụ Kinh này (Vô Lượng Thọ Kinh) trong khoảng một trăm năm. Nếu chúng sanh nào gặp Kinh này, tùy ý sở nguyện, đều được đắc độ (Kinh Vô Lượng Thọ)

Ðức Phật nói rằng: Trong thời Chánh Pháp người ta thành tựu pháp thiền quán; trong thời tượng pháp, người ta thành tựu pháp thiền định và trong thời mạt pháp, người ta thành tựu pháp môn Tịnh Ðộ

Niệm Phật hàng ngày trong thất niệm Phật là chúng ta gieo trồng chủng tử thành Phật. Mỗi tiếng niệm Phật là gieo trồng một chủng tử, mười tiếng niệm Phật là gieo trồng mười chủng tử. Nếu mỗi ngày quý vị niệm một triệu lần, quý vị đã gieo trồng một triệu chủng tử. Cứ niệm, đừng lo tâm tán loạn. (HT. Tuyên Hóa)

TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI

Đại thế giới: Tức là Đại thiên thế giới. Thế giới chúng ta ở đây là một thế giới nhỏ; 1.000 thế giới nhỏ, gọi là “Tiểu thiên thế giới”; 1.000 Tiểu thiên thế giới, gọi là “Trung thiên thế giới”; 1.000 Trung thiên thế giới, gọi là “Đại thiên thế giới”. Một Đại thiên thế giới là một nghìn triệu thế giới nhỏ. Thế giới Ta bà (Trái Đất) là một Đại thiên thế giới.
Tây Phương Cực Lạc quốc rất xa Trái Đất, không đi lại bằng tàu vũ trụ được, chỉ đi lại bằng thần thông và Tâm Định với nhau mà thôi.
Trong Kinh chỉ rõ rành rành số lượng các thế giới hành tinh trong vũ trụ, và miêu tả rất kĩ nhiều cõi trang nghiêm Phật tịnh độ, vậy mà các nhà khoa học NASA vẫn đang còn mãi ngồi tính đếm, đếm hoài không ra, nghĩ hoài không tới.

BỒ TÁT NHÂN HIỆN THÂN

Sau khi ta nhập Niết bàn, phần nhiều người đời không tôn kính pháp; ưa thích cống cao tự đại, khinh miệt mọi người. Coi rẻ chánh pháp, hủy nhục Tỳ kheo, không biết cúng dường, chửi rủa ném đá, không sợ bị bắt. Bọn người này đều từ trong cõi ma đến sanh làm người, nên ác độc như vậy. Ai mà tin ưa Phật pháp là do đời trước là đệ tử Phật rồi, nên có thể biết thật giả theo phụng thờ chánh pháp, thọ trì giới kinh, lại diệt trừ được hai mươi điều, đều là chư đại Bồ tát chẳng phải phàm phu.
************
BỒ TÁT NHÂN HIỆN THÂN NƠI TA BÀ âm thầm lặng lẽ độ chúng sanh, không cầu phước báu hữu lậu, cùng chịu cảnh khổ cùng chúng sanh, cùng sống trong cảnh dơ bẩn ngũ trược ác thế cùng chúng sanh, làm được việc khó làm, nhẫn được việc khó nhẫn, nhịn được việc khó nhịn, đó là đi ngược với dòng đời thế gian. Ai có đủ trí tuệ nhận ra được bậc thánh nhân, thân cận cùng bậc thánh nhân mưu cầu việc học đạo, bỏ ác làm thiện sẽ gieo nhân thánh nhân đời sau, sẽ trở thành BỒ TÁT QUẢ HÓA THÂN TỰ TẠI ĐI VÀO CÁC CÕI độ vô lượng chúng sanh từ loài hữu hình đến loài vô hình ở đời sau. Ai tu tập theo hạnh Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Bồ Đề sẽ sớm đạt quả vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vị lai.

KINH LĂNG NGHIÊM ĐẠI ĐỊNH

"Trong Phật Giáo, tất cả kinh điển đều rất quan trọng, nhưng Kinh Lăng Nghiêm còn quan trọng hơn nữa. Phàm hễ nơi nào có Kinh Lăng Nghiêm, thì nơi đó có Chánh Pháp trụ thế. Khi Kinh Lăng Nghiêm bị mất đi, đó là dấu hiệu của Thời Kỳ Mạt Pháp. Khi giảng Kinh Lăng Nghiêm, tôi có nói rằng: 'Vào thời kỳ Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất. Sau đó dần dần các kinh khác cũng bị diệt theo.' Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu thờ Phật. Nếu Kinh Lăng Nghiệm là ngụy tạo, thì tôi sẵn sàng chịu đọa địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn ở chốn địa nguc, không bao giờ được trở lại thế gian để gặp mọi người nữa! Người nào có thể học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc Chú Lăng Nghiêm, thì người đó mới là đệ tử chân chánh của Phật!" --(Hòa Thượng Hư Vân)---

NIỆM PHẬT A-DI-ĐÀ

Cười cho số kiếp con người
Lây quây đã hết kiếp người
Thu bay trên những nụ cười xanh xao
Rõ ràng là giấc chiêm bao
Biết như huyễn mộng vẫn đau xé lòng
Mới hôm nào chồng chồng vợ vợ
Mới hôm nào mẹ mẹ con con
Ngày nay thây bỏ đâu còn
Xác thân vô chủ như hòn đá hoang
Ai ơi tỉnh giấc mộng vàng mà quy y Phật
Niệm A-Di-Đà sâu cất tình thương
Tầm đường về chốn Tây Phương
Trì tâm niệm Phật là đường vãng sanh

(ĐĐ Thích Trí Huệ)

CÁM ƠN CUỘC ĐỜI

" Thấy được kinh Phật là khó. Học rộng nghiên cứu sâu là khó. Thấy tánh học đạo là khó. Tùy duyên hóa độ người là rất khó”. Xin đê đầu đảnh lễ, tri ân cám ơn tất cả, cám ơn cha mẹ, cám ơn cuộc đời đã ban tặng những phước báu được làm người, ban tặng lẫn thuận duyên, nghịch duyên, chướng duyên. Cám ơn 3 ngôi báu Tam Bảo vì đã giúp con nhận ra chân lý diệu vợi và giúp con lựa chọn 1 con đường và 1 lối đi riêng, nếu không tiến ắt sẽ lùi trong bước đường sinh tử luân hồi, giúp con có đủ định lực và ý chí tinh thần để không bị cuốn trôi đi trong sự tầm thường của: cơm- áo- gạo- tiền-ăn-uống-ngủ-nghỉ và sự tầm thường thấp hèn của sự mong cầu danh-lợi-địa vị-vật chất trong kiếp sống con người. Tam Bảo đã giúp con có đủ định lực và ý chí tinh thần để vươn lên trên sự tầm thường của kiếp người và đời sống ngắn ngủi đó chính là gieo trồng, gìn giữ và chăm sóc hạt giống Bồ Đề cho chính mình và chúng sanh._()_ Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô A-Di-Đà Phật, Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ tát Ma Ha Tát _()_

THỜI GIAN ĐANG TRÔI QUA TIK TAK, TU MAU KẺO TRỄ

Tháng Năm 2012
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 4    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG Ở ĐÂY NÈ (^_^)

CÁC CHUYÊN MỤC

vinhan1088@yahoo.com

NHÂN THÂN NAN ĐẮC-PHẬT PHÁP NAN VĂN

Thân người khó đặng, trung độ khó sanh, chánh pháp khó gặp, trí thức khó gần. Thân người khó đặng, nay đã đặng; trung độ khó sanh, nay đã sanh; chánh pháp khó gặp, nay đã gặp; trí thức khó gần, nay đã gần. Việc việc đầy đủ, mỗi mỗi sẵn sàng, nếu chẳng phát tâm tu hành, Phật cũng khó cứu đặng.

TRỤ VÀO NƠI VÔ TRỤ

“Cái gì có nương tựa, cái ấy có giao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau”.

THOÁT LY ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG – CỨU CÁNH NIẾT BÀN

Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn không có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời đại hôm nay, người ta đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm móng thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay. Giáo dục của thời đại không còn là giáo dục đạo đức nữa, mà giáo dục đã thiên về tri thức và hướng ngoại.

NIỆM PHẬT THẬP YẾU

1. Niệm Phật Vì Thoát Ly Sanh Tử

2. Niệm Phật Phát Lòng Bồ đề

3. Niệm Phật Dứt Trừ Lòng Nghi

4.Niệm Phật Quyết Định Nguyện Vãng Sanh

5. Niệm Phật Hành Trì Cho Thiết Thật

6. Niệm Phật Đoạn Tuyệt Phiền Não

7. Niệm Phật Khắc Kỳ Cầu Chứng Nghiệm

8. Niệm Phật Bền Lâu Không Gián Đoạn

9. Niệm Phật An Nhẫn Các Chướng Duyên

10. Niệm Phật Dự Bị Lúc Lâm Chung

THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC-PHẬT PHÁP KHÓ NGHE

Nghe giảng kinh thuyết pháp không giống như đi nghe nhạc hoặc coi cải lương đâu. Ta không cảm thấy vui ồ ạt một chút rồi hết, mà nó rất thâm trầm. Chúng ta phải suy gẫm, nhận định mới hiểu, mới thấy cái hay của pháp. Từ đó áp dụng thực hành, ta mới thấy giá trị và lợi ích thiết thực của giáo pháp. Thực hành gọi là tu. Vị nào học Phật hội đủ ba điều kiện trên, nghe pháp, biết suy gẫm đúng và thực hành, bảo đảm vị ấy là người Phật tử chân chánh, sẽ tu tiến chớ không bao giờ lùi. Được thế chắc chắn quí vị sẽ thoát khỏi những đau khổ trong hiện tại và mai sau.

(HT Thích Thanh Từ)

CỐT TỦY CỦA ĐẠO PHẬT

Cốt tủy của đạo Phật, không phải là van xin cầu nguyện, cúng kiến lễ lạy cho nhiều, mà chính là lúc nào cũng nhớ nghĩ tới hạnh nguyện của chư Phật, nói lời như Phật dạy, hành động như Phật dạy, luôn luôn giữ gìn tâm ý thanh tịnh, bình an, yên tĩnh, không loạn động, không điên đảo. Ðược như vậy, tam nghiệp Thân Khẩu Ý hằng thanh tịnh, chúng ta vừa có phúc đức vừa có công đức đầy đủ, phúc tuệ trang nghiêm, tùy tâm mãn nguyện. Cứu kính của đạo Phật chính là nghĩa đó vậy.

TU LÀ GÌ?

Đồng chúng con tiền duyên căn trước
Gặp đời này hữu phước mới tu
Tu là sửa đổi hận thù.
Lỗi xưa trừ bỏ
Thù thù thứ tha
Tu là nguyện hứa thứ tha tất cả
Lòng dặn lòng cải hóa tự thân
Học đòi theo bậc thánh nhân
Tạm dùng rau trái nuôi thân qua ngày

(ĐĐ Thích Trí Huệ)

SI MÊ

"Làm con lừa, con lạc đà vì chở nặng chưa phải là khổ.
Ăn hoàn sắt nóng, uống nước đồng sôi cũng chưa phải là khổ.
Chỉ có Si Mê không tìm thấy lối đi mới thực sự là KHỔ"

(Kinh Sa Di Thập Giới )

VÔ MINH

Nước hay hiện bóng, nếu đem đổ vào vò, rồi lấy vải bịt miệng vò lại, mới lấy lửa đốt cho thật nóng, nước trong vò sôi vọt. Chúng sanh đem mặt đến soi vào, chắc chẳng thấy bóng hình gì cả. Cũng giống như thế, nơi tâm vốn sẵn có ba món độc, nó sôi vọt ở trong, rồi năm món ngăn che là: tham dục, giận dữ, ngủ nghỉ, loạn động và nghi ngờ, nó bịt che bên ngoài thì làm sao mà thấy được Đạo.

(Kinh Tứ Thập Nhị Chương)

PHẬT TỬ THUẦN THÀNH

Ngày nay, vẫn biết có một số đông tín đồ đã hiểu đúng giá trị cao siêu và lợi ích rộng lớn của Ðạo Phật, nhưng cái số ấy không phải là đa số, nếu đem so với cái khối tín đồ hiểu Ðạo một cách nông cạn, hay sai lạc nói trên.
Vì không hiểu một cách thấu đáo Ðạo Phật, nên lòng tin không được chắc chắn. Mỗi khi gặp một lý thuyết nào lạ, một tôn giáo nào mới, thì họ ùa hòa tin theo, như cây thiếu rễ cái, gió thổi phía nào thì ngã rạp theo phía ấy, thật đáng buồn thương

(HT. Thích Thiện Hoa)

NGƯỜI BIẾT SỐNG MỘT MÌNH

Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi
Phải tinh tấn hôm nay
Kẻo ngày mai không kịp
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả
Người nào biết an trú
Đêm ngày trong chánh niệm
Thì Mâu Ni gọi là
Người biết sống một mình.

(Majjhima Nikaja 131)

QUÁ KHỨ-HIỆN TẠI-TƯƠNG LAI

Vì có quá khứ nên mới có hiện tại và tương lai thì hiện tại và tương lai phải thuộc về quá khứ; còn như trong quá khứ không có hiện tại và tương lai thì làm sao hiện tại và tương lai được hình thành trên nền tảng của quá khứ. Như thế hiện tại và tương lai không thể thuộc về quá khứ và chúng cũng không thể tồn tại tách biệt với quá khứ. Khái niệm quá khứ, hiện tại và tương lai không khác gì với khái niệm ở dưới, ở giữa và ở trên hay những khái niệm sanh, trụ và diệt. Nếu nói rằng thời gian có thể được xác định thông qua những khái niệm như ngày, tháng, năm, thập niên, thế kỷ… cũng là sai lầm vì rằng không ai có thể điều chỉnh hay đo lường được thời gian dù rằng đó là thời gian tĩnh hay là động. Nếu cho rằng thời gian là thực có thì nó phải được hình thành theo một cấu trúc hay một trật tự nào đó, dù là hữu hình hay vô hình, nhưng không ai có thể tìm ra được cấu trúc hay trật tự như vậy. Từ những luận điểm đó ngài Long Thọ đi đến kết luận rằng thời gian là không, là vô tướng, thời gian là không thực vì nó mang tính tương đối, còn thực tại thì luôn viên mãn và tuyệt đối. Đạo Nguyên Thiền Sư, sơ tổ của dòng Tào Động tại Nhật Bản đã từng dạy: "Thời gian trôi nhanh như tên bắn mà đời người thì mong manh tợ sương mai. Chúng ta không thể tìm lại được một ngày nào một khi nó đã vụt qua.. Khi thấu hiểu về bản chất của thời gian và ý thức được sự vô thường của cuộc sống, chúng ta sẽ hiểu được rằng mỗi khoảnh khắc hay mỗi hơi thở của đời mình thật quí báu biết bao. Chỉ trong một kiếp sống, con người sẽ trở nên hoàn thiện và toàn mỹ hơn nếu như họ không uổng phí những giây phút ngắn ngủi để đeo đuổi những ảo ảnh phù du mà biết trở về với chính mình để gạn lọc mọi nhiễm ô, sống tỉnh thức và hướng thượng theo ánh sáng chân lý Phật-đà.

KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

Không có gì quí hơn độc lập tự do hạnh phúc. Chúng ta đang là nô lệ của thân xác và phiền não của chính chúng ta. Cái thân ra lệnh phải ăn uống, cái tâm ra lệnh phải ghét bỏ hay yêu thương ai đó. Vậy độc lập tự do hạnh phúc là gì? tự do là ung dung giữa ràng buộc và hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau, nhưng có mấy ai tìm thấy tự do cho chính mình 1 cách hoàn toàn đâu

HẢI ĐẢO TỰ THÂN

Tất cả các hiện tượng nào có sinh khởi, có tồn tại, có tác dụng trên các hiện tượng khác, nói khác hơn là tất cả các pháp hữu vi, đều phải theo luật vô thường để đi đến hoại diệt. Muốn cho chúng còn mãi còn hoài mà không hoại diệt, đó là một chuyện không thể xảy ra. Ta đã từng nhắc nhở các con nhiều lần rằng tất cả những gì ta trân quý hôm nay ngày mai thế nào ta cũng phải buông bỏ và xa lìa. Chính ta chẳng bao lâu nữa cũng sẽ ra đi. Vì vậy các con phải thực tập làm hải đảo tự thân, biết nương tựa nơi chính mình mà đừng nương tựa vào một kẻ nào khác, phải thực tập nương tựa vào hải đảo chánh pháp, biết nương tựa nơi chánh pháp chứ đừng nương tựa vào một hải đảo nào khác hay một ai khác.

(Kinh Hải Đảo Tự Thân)

SẮC TỨC THỊ KHÔNG-KHÔNG TỨC THỊ SẮC

Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy. Ðứng về mặt tâm lý mà nói, ai thật sự có đắc một cái gì thì không bao giờ nghĩ rằng mình đắc. Chỉ tơ tưởng ôm ấp theo đuổi là khi mình chưa có. Khi đã có rồi, thì lòng bình thản dửng dưng. Hóa ra, không đắc mới thật sự có đắc. Hơn nữa đứng về mặt lý trí mà xét, cái đắc ấy không khác chi hơn là cái mình sẵn có, nhưng vì vô minh che lấp, nay nhờ giác ngộ mà bắt gặp trở lại mà thôi.

( Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh)

MẤY ĐIỀU QUÁN TƯỞNG

Thế Tôn lời dạy tỏ tường

Mấy điều quán tưởng phải thường xét ra:

Chúng sanh rồi phải bị già,
Không ai tránh khỏi lúc qua canh tàn.

Chúng sanh bệnh tật phải mang,

Không ai sống mãi bình an, mạnh lành.

Chúng sanh, sự chết sẵn dành,

Không ai tránh khỏi tử sanh đến kỳ.

Chúng sanh phải chịu chia ly,
Giã từ tất cả, ra đi một mình

Mang theo gánh nghiệp ba sinh,

Theo ta như bóng theo hình không buông.

Nay con nương đấng Pháp Vương

Niết-bàn chứng đắc, cát tường an vui.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.