GIÁC CHÚNG SANH HỮU TÌNH – NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI – TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ QUẢNG

Thông tin Giảng sư

Hòa Thượng Thích Trí Quảng, sinh năm 1938 tại Củ Chi, Sài Gòn. Tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học tại Đại học Rissho, Tokyo, Nhật Bản năm 1971. Hiện nay đang giữ các chức vụ :
- Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương GHPGVN
- Trưởng ban Phật giáo quốc tế Trung Ương GHPGVN
- Trưởng ban Trị Sự Thành Hội PG TPHCM
- Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ

Hòa thượng Thượng Trí Hạ Quảng  pháp danh Thích Trí Quảng, là Giáo sư, Tiến sĩ Phật học, sinh tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Ông là Trưởng Ban Phật giáo Quốc tế, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trưởng ban Hoằng Pháp Trung Ương GHPGVN, Trưởng ban Trị Sự Thành Hội PG TPHCM, Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ. Trụ trì chùa Huê Nghiêm 2 (299B Lương Định Của, Phường Bình Khánh, Quận 2, TP.HCM).

HUÊ NGHIÊM – CHÙA HUÊ NGHIÊM
Địa chỉ: 204 KP1 P.BÌNH THỌ, Q.TĐ, TP. HCM
Tỉnh thành: Hồ Chí Minh
Điện thoại: (08)38963023
Ngành nghề: CHÙA

Tiểu sử

Ông thế phát xuất gia vào năm lên 10 tuổi, tiếp nhận thọ Đại giới Tỳ kheo vào năm 1960.

Năm 1971 tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học tại Đại học Rissho, Tokyo, Nhật Bản.

Năm 2008 nhận bằng Tiến sĩ danh dự về Hoằng Pháp và Giáo Dục Phật Giáo của Đại học Mahachulalongkorn thuộc Hoàng Gia Thái Lan.

BAN HOẰNG PHÁP THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP. HỒ CHÍ MINH

http://banhoangphap.com/modules.php?name=Nvmusic&op=singer&id=19

PHÁP ÂM THƯỜNG CHUYỂN

http://www.phapamthuongchuyen.com/author.php?ID=39&Act=Detail

CÁC BÀI THUYẾT PHÁP RẤT HAY CỦA HÒA THƯỢNG

Phật giáo và dân tộc – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Quan niệm về Phật – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Quan niệm về Tịnh Độ tông – HT. Thích Trí Quảng

Xây dựng tương lai – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Bi Trí Dũng – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Nhà lửa tam giới – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Con đường tâm linh – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Tu trả ơn – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Học Phật – HT. Thích Trí Quảng – wWw.PhatAm.com

Căn lành – HT. Thích Trí Quảng – Phần 01

Căn lành – HT. Thích Trí Quảng – Phần 02

Hạnh khiêm tốn – HT. Thích Trí Quảng

Hải đảo tự thân – HT.Thích Trí Quảng

Tự lực và tha lực – HT.Thích Trí Quảng

Bản chất của Niết Bàn – HT. Thích Trí Quảng

Nụ cười an lạc – HT. Thích Trí Quảng

Hạnh nguyện Bồ-tát Phổ Hiền – HT. Thích Trí Quảng

VÍA PHẬT A DI ĐÀ_ HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN:
“Thấy rõ những nguyên nhân thịnh suy để sống hài hòa”

Phật giáo Việt Nam đang chuyển mình ra sao, quá khứ được cảm nhận như thế nào trong tư duy của con người hiện đại? Phật giáo và dân tộc là mối tương quan, đồng hành, hứa hẹn hơn bao giờ hết niềm tin hướng thiện gắn liền với vận mệnh của một dân tộc. VHPGVN xin giới thiệu đến quý độc giả bài phỏng vấn Hoà thượng Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội
đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN:
Với cương vị là một vị giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, kính xin Hòa thượng cho biết cách nhìn của Hòa thượng về tình hình đổi thay của Phật giáo nước nhà hiện nay?
HT. Thích Trí Quảng: Điều mà tôi nhìn thấy là tăng ni trẻ có được sự học rộng so với thời trước, có thể thích ứng được với hoàn cảnh hiện tại. Ngược lại, các vị tôn túc lại đặt nặng về vấn đề tu hành, về giới luật, cho nên ít nhiều có những mâu thuẫn giữa lớp trẻ và lớp già. Do đó các ngài chưa dám giao lại sự lãnh đạo giáo hội cho thế hệ kế tiếp. Tôi vẫn có ý muốn là làm sao cho lớp lớn tuổi hiểu được lớp trẻ, và bồi đắp cho họ thêm một số về kinh nghiệm tâm linh, để họ nhìn cuộc đời được sáng suốt hơn, để họ tiếp nối sự lãnh đạo giáo hội trong giai đoạn mới này tốt hơn. Các vị lãnh đạo giáo hội đương thời hầu hết tuổi đời đã trên 70, cho nên mặc dầu uy tín có, nhưng sức lực kém.
Nếu kết hợp được uy tín của chư tôn túc trưởng lão và năng lực và lòng nhiệt huyết của tăng ni trẻ thì chắc chắn Phật giáo sẽ thích nghi được với xã hội đương đại và phát triển hơn nữa.
- Trong suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo Việt Nam luôn thể hiện tinh thần “hộ quốc, an dân”, “đồng hành cùng dân tộc”. Xin Hòa thượng cho biết những giá trị tinh thần đó, cụ thể là qua đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, đang được thể hiện như thế nào trong những sinh hoạt của Giáo hội hiện nay?
: Điều may mắn của chúng ta là trong lịch sử Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, đặc biệt nhất là tinh thần hộ quốc an dân đời Lý – Trần với cái nhìn sáng suốt của các bậc Thiền sư ngộ đạo, với niềm tin trong sáng của các vua tôi thời bấy giờ. Có thể nói đó là thời vàng son rất hiếm có lại trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 1000 năm Thăng Long lịch sử, cũng là kỷ niệm 1000 năm Thiền sư Vạn Hạnh có những sắp đặt thuận lý, thuận lòng người là đưa Lý Công Uẩn vào vai trò lãnh đạo một quốc gia, đưa những giá trị Phật giáo đi vào đời sống. Đây là một sự kiện văn hóa – lịch sử lớn của đất nước, đồng thời là một dịp vô cùng quý giá đối với Phật giáo, làm cho giới Phật giáo đương đại có cái nhìn sâu sắc hơn về lịch sử truyền thống của cha ông. Để từ truyền thống đó, có những giải pháp cho hôm nay, đặc biệt là cách Phật giáo đi vào đời sống như thế nào cho thích hợp, xứng đáng kế thừa vị trí quan trọng trong lòng của dân tộc, tỏ rõ đặc điểm đồng hành, đồng sự, những chia sẻ thiết thực với lợi ích của đất nước, yêu cầu của thời đại.

Kính bạch Hòa thượng, thực tế, Phật giáo đang vận động trong xu thế hội nhập chung của đất nước và của Phật giáo thế giới. Theo Hòa thượng, đâu là những thách thức chủ yếu trong quản lý và điều hành Giáo hội?
Vấn đề hội nhập, đương nhiên Phật giáo chúng ta chủ trương tuệ giác, tu chứng để nhìn thấy cuộc sống thực mà dấn thân vào đời. Tuy nhiên ngày nay, cũng có một số tăng ni vẫn nghĩ theo cách truyền thống, chịu ảnh hưởng nhiều từ quá khứ, trong đó có những điều không còn thích hợp với xã hội hiện đại. Hễ cái gì đã không còn thích hợp với hiện tại mà mình áp đặt lên thế hệ con em mình thì chắc chắn rằng thế hệ trẻ khó chấp nhận, khó tiếp thu, mặc dù về đạo lý trong lòng họ vẫn quý trọng các bậc tiền nhân, thế hệ đi trước. Tôi nghĩ thách thức chủ yếu là phải làm sao có sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, phải làm mới giá trị truyền thống. Điều đó có nghĩa là phải biết chọn lọc những gì cần thiết làm căn bản cho sự phát triển hôm nay và trong tương lai, chứ không dựa vào truyền thống, quá khứ để làm cản bước tiến của các Phật sự mang dấu ấn thời đại.
Trước những khủng hoảng về lối sống con người, môi trường sinh thái, theo Hoà thượng, Phật giáo Việt Nam đã, đang và sẽ làm gì để góp phần vào sự điều chỉnh chung của toàn xã hội?

Tăng ni Phật tử chúng ta có ý thức hòa quyện cùng sinh hoạt chung của đất nước, chúng ta cố gắng giữ những tinh thần đó để thực hiện được lời dạy của Hòa thượng Trí Thủ, vị Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: những gì ta làm cho dân tộc này là ta làm cho Phật pháp, những gì ta làm cho Phật pháp cũng chính là những đóng góp cho dân tộc như cha ông chúng ta đã từng làm.

Đây là điều mà Phật giáo chúng ta phải có tiếng nói mạnh mẽ. Ngay thời Đức Phật còn tại thế, ý thức bảo vệ môi trường sống, tôn trọng sự sống cho người, cho vật, đã được thể hiện trong tinh thần cộng tồn. Truyền thống đó vẫn kéo dài cho tới ngày nay, nên đối với môi trường sống thì tăng ni phật tử chúng ta là người tôn trọng cao nhất. Nó hoàn toàn khác với tư tưởng muốn chinh phục thế giới của châu Âu, châu Mỹ. Tư tưởng đó từng hủy hoại môi trường sống của loài người, loài vật, làm cho nhiều loài phải tuyệt chủng, và nay người Âu, Mỹ đã phải nhận thức lại và đã có những hành động sửa sai.
Phật giáo chúng ta không có tư tưởng như vậy, chúng ta nhận thức thế giới là duyên sinh. Phật giáo luôn chủ trương thiểu dục tri túc, luôn có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái như bảo vệ mạng sống của chính mình.
Đa số tu viện Phật giáo được xây dựng trong khuôn viên có sức sống gần gũi với môi trường nhiều hơn. Như khu đất chùa Huê Nghiêm II, quận 2, rộng khoảng 20.000m2 nhưng tôi chỉ sử dụng 3.000m2 cho việc xây dựng, còn lại 17.000m2 tôi chủ trương xây dựng hồ, ao và trồng cây xanh để tạo sức sống hài hòa. Tăng sĩ Phật giáo chủ trương sống thiểu dục tri túc, ăn uống vừa biết đủ, nên không quá lạm dụng những nhu cầu mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Tôi nghĩ, chính đời sống tu hành theo hạnh Phật, theo giới luật Phật chế đã là cách bảo vệ môi trường sinh thái rồi.
Mỗi Tăng Ni, Phật tử siêng năng tu tập, giữ gìn giới pháp đã thọ, tạo môi trường sống tốt lành theo ảnh hưởng của mình, đó là cách tích cực góp phần điều chỉnh lối sống cũng như môi trường sinh thái theo hướng tốt lành.


-
Kính bạch Hòa thượng, có một số cảnh báo cho rằng, Phật giáo Việt Nam nên kịp thời điều chỉnh phương pháp tiếp cận và đưa những giá trị Phật giáo vào cuộc sống, nếu không muốn trở thành tôn giáo thiểu số trên quê hương Việt Nam trong một tương lai gần, Hòa thượng nghĩ về điều này như thế nào?

Tôi không nghĩ bi quan như một số người lo xa, vì tuệ giác của đạo Phật nhìn nhận thế gian là vô thường. Mọi vật luôn biến đổi, còn hay mất đều tuân theo định luật vô thường. Tuy nhiên, khi nào Phật giáo phát triển mạnh thì chúng ta nhìn thấy rõ có những bậc cao tăng, đắc đạo, những người được quần chúng nhân dân tín ngưỡng, khi đó chúng ta gọi là Phật giáo thịnh hành.
Trong lịch sử Phật giáo đã có thời suy đồi, do tu sĩ nghèo nàn về kiến thức cũng như đạo đức. Nhưng rồi chúng ta lại có thời phục hưng qua các phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX. Có thịnh có suy. Điều quan trọng nhất là chúng ta sống nhịp nhàng theo sự vận động chung. Chúng ta cần thấy rõ những nguyên nhân thịnh suy để sống một cách hài hòa, giữ chí hướng thượng một cách kiên định.

- Theo thống kê của nhà nước thì Phật giáo Việt Nam có khoảng hơn 10 triệu tín đồ trên tổng số 86 triệu dân, điều này cũng đặt ra những thách thức khi một số các tôn giáo đẩy mạnh mục đích “cải đạo”, Hòa thượng nhận định như thế nào về vấn đề này?
Tôi thấy đó là việc bình thường, thống kê của nhà nước là thống kê dân số, cái này không thể đem đặt vào tín ngưỡng tâm linh được. Có những người ngày hôm qua họ theo đạo Thiên chúa, nhưng hôm nay họ gặp được vị cao tăng nào đó thì họ cũng có thể trở thành một vị Phật tử. Nhưng cũng có vị Phật tử, thuần thành, đóng góp cho đạo rất nhiều mà không may gặp vị nào đó tu hành không đúng với chánh pháp thì họ trở thành bất mãn rồi bỏ đạo. Đó là chuyện mà tôi nghĩ nó bình thường.
Ngay trong thời Đức Phật cũng có rất nhiều người ngoại đạo đi theo Đức Phật. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, chúng ta cũng có một số vị tu sĩ bỏ đạo đi theo những đạo khác, rồi đến thời kỳ chấn hưng Phật giáo có không ít người tôn giáo khác lại theo đạo Phật vì họ nhìn thấy trong Đạo Phật một lý tưởng sống rất đẹp. Đạo Phật không giống như những tôn giáo khác, không phải là một tổ chức với những giáo điều, nên chúng ta theo Đạo Phật là để học những lời dạy của Đức Phật và ứng dụng vào trong cuộc sống. Khi có niềm tin chân chính như thế, chúng ta thấy đạo Phật là một lẽ sống, vì lợi ích của lẽ sống mà ta theo chứ không phải theo như một hình thức nô lệ về tinh thần.

- Nhiều người nói rằng, Hòa thượng là người luôn giữ được thái độ điềm tĩnh, hài hòa trước mọi khen chê, có khi nào Hòa thượng bi quan về một điều gì đó trong công việc cũng như trong cuộc sống?

Tôi nhớ lại trong suốt 60 mươi năm đời tu, chưa bao giờ tôi có những bi quan, nên tôi luôn có ý thức phấn đấu nhiều hơn. Thí dụ như khi thấy Phật giáo suy đồi, tăng ni kém đức hạnh, thì tôi nỗ lực tu hành nhiều hơn, nỗ lực xây dựng lối sống đạo đức của mình nhiều hơn. Khi tôi còn trẻ, tôi thấy đa số tăng ni ít học thì tôi nỗ lực cho việc học hành, tăng ni còn sống trong thủ phận thì tôi nỗ lực trong việc hoằng pháp lợi sanh. Tôi đã dấn thân nhiều trong những giai đoạn khó khăn, nguy hiểm, nên tôi coi đó là lý tưởng của mình. Nếu không có những chướng duyên như vậy thì tôi thấy cuộc sống, cái hiện hữu của tôi trên cuộc đời này nó không có ý nghĩa. Càng có những khó khăn thì tư duy của tôi càng sáng thêm, để hiểu được lời dạy của Đức Phật một cách rõ ràng hơn.
- Theo Hòa thượng thì đâu là biểu tượng cho tinh thần dấn thân phụng sự đạo pháp của Phật giáo Việt Nam trong thời hiện đại?
Ngày nay, khi chúng ta tiếp xúc với bạn bè trên thế giới, họ thấy được Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức thống nhất, đây là điểm đặc sắc nhất của Phật giáo Việt Nam. Chúng ta có sự hòa hợp của tất cả các hệ phái Phật giáo. Cả Nam truyền và Bắc truyền đều ở chung trong một Giáo hội, thì đây là một điều hiếm có ở các nước khác. Tính hoà hợp đó được Giáo hội chú ý, đưa vào nền giáo dục Phật giáo từ trung cấp cho đến đại học (các học viện Phật giáo Việt Nam trên ba miền, tăng ni các hệ phái có thể học chung, có điều kiện để hiểu biết lẫn nhau). Khi làm công tác giáo dục, tôi luôn triển khai về mặt đồng nhất của Giáo hội, cũng là cái đồng nhất của giáo lý. Khi tôi giảng Kinh Pháp Hoa cho tăng ni của nhiều hệ phái, tôi thường dẫn phẩm Thí dụ về “nhà lửa tam giới”. Đó là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật nói ở thôn Ưu Lâu Tần Loa cho ba anh em tôn giả Ca Diếp. Ngài nói rõ rằng, mặc dù tu viện có 1.000 tu sĩ, nhưng nếu trong thâm tâm của các vị bằng mặt mà không bằng lòng, thì sẽ đốt cháy hết tâm can của mọi người. Nhờ Đức Phật nói điều đó mà 3 anh em nhà Ca Diếp mới ngộ được và 1000 tu sĩ ngoại đạo mới trở thành tu sĩ Phật giáo.

Tinh thần dấn thân của Phật giáo chính là việc nhận thức những Phật sự quan trọng, bỏ qua những khác biệt về hình thức và truyền thống được quy định trong quá khứ để chung lòng chung sức xây dựng ngôi nhà Giáo hội, thúc đẩy các Phật sự phát triển.
- Kính bạch Hòa thượng, hiện nay, điều gì Hòa thượng quan tâm nhiều nhất?
Với tuổi ngoài 70 tuổi như tôi, thanh thản và buông xả là điều quan trọng. Phật sự Giáo hội giao phó, về trách nhiệm đứng đầu Ban Phật giáo Quốc tế, tôi cố gắng làm sao bạn bè khắp 5 châu hiểu được Phật giáo Việt Nam và tạo mối quan hệ tốt với các tổ chức Phật giáo trên thế giới. Với trách nhiệm Viện trưởng Học viện Phật giáo tại Tp. Hồ Chí Minh, thì tôi mong làm sao phát triển Học viện này thành Trường Đại học có tầm cỡ quốc tế. Gần đây nhất, tôi có ký một Bản ghi nhớ với Đại học Tổng hợp Bắc Kinh, về công tác trao đổi sinh viên Học viện Phật giáo Việt Nam với họ. Trước đó, tôi cũng ký Bản ghi nhớ với Đại học Phật Quang ở Đài Bắc, nhằm mục tiêu trao đổi về vấn đề học thuật. Và với Đại học Nananda Ấn Độ, Đại học Mahamakut Thái Lan…, tất cả những việc làm đó nhằm cố gắng nâng cấp giáo dục Phật giáo nước nhà, tạo tiền đề cho những bước phát triển sau này, nhằm giúp cho Tăng Ni sinh có nhiều cơ hội lựa chọn học hành, nghiên cứu sâu tốt hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và rộng của thời đại.
- Nhân dịp Xuân về, Hòa thượng gửi gắm niềm tin và ước nguyện gì cho Phật giáo Việt Nam nói riêng và cho đất nước nói chung?

- Tôi tin tưởng vào sự phát triển của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới. Đương nhiên tăng ni Phật tử chúng ta có ý thức hòa quyện cùng sinh hoạt chung của đất nước, chúng ta cố gắng giữ những tinh thần đó để thực hiện được lời dạy của Hòa thượng Trí Thủ, vị Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: những gì ta làm cho dân tộc này là ta làm cho Phật pháp, những gì ta làm cho Phật pháp cũng chính là những đóng góp cho dân tộc như cha ông chúng ta đã từng làm.

- Xin chân thành cảm ơn và kính chúc Hòa thượng thân tâm thường lạc, Phật sự viên thành

Thích Giác Đạo thực hiện
(Theo Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam – số Xuân Tân Mão 2011)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 256 other followers