GIÁC CHÚNG SANH HỮU TÌNH – NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI – TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

CHỮ ĐỒNG TỬ VÀ TIÊN DUNG

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BẠN NGHĨ GÌ KHI THẦN THOẠI KHÔNG CÒN LÀ THẦN THOẠI NỮA? KHI CÁC MẢNH GHÉP TRÒ CHƠI XẾP HÌNH TỪ TỪ XUẤT HIỆN 1 BỨC TRANH CỦA SỰ THẬT MÀ NGƯỜI CHƯA TU THEO ĐẠO PHẬT KHÔNG THỂ NÀO NGHĨ BÀN VÀ TƯỞNG TƯỢNG RA NỔI. LIỆU RẰNG CÓ 1 THẾ GIỚI THẦN TIÊN ĐANG ĐỢI CHÚNG TA TRÊN TRỜI HAY SAO? CÂU TRẢ LỜI LÀ “CÓ”. NẾU CẢNH GIỚI TRỜI, NGƯỜI, SÚC SANH LÀ CÓ THẬT, VẬY CÁC CẢNH GIỚI CÒN LẠI CỦA CHƯ PHẬT, BỒ TÁT, THANH VĂN, DUYÊN GIÁC, A-TU-LA, ĐỊA NGỤC VÀ NGẠ QUỶ CHẲNG LẼ CÒN KHÔNG CÓ THẬT Ư?

BẢN ĐỒ PHÁP GIỚI CHÚNG SANH

Nếu muốn được quả làm người thì phải gieo nhân làm người. Nhân làm người là sự chuyên giữ năm giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu). Với nhân nầy, ta được cái quả trong hiện tại là mọi người từ trong gia đình quyến thuộc cho đến ngoài xã hội, đều thương yêu quí trọng. Nhưng nếu chúng ta muốn tiến xa hơn một bực nữa, chúng ta gắng tu Thập Thiện Nghiệp, chúng ta sẽ hưởng được cuộc sống an lạc trong hiện tại và đời sau, chúng ta sẽ sanh lên sáu từng Trời cõi Dục, hưởng cảnh vui thú, an nhàn.

Nếu chúng ta muốn vượt khỏi ba cõi thế gian, để chứng quả tam thăng (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát), ta phải tu nhân Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và Lục Độ. Tuy thế, muốn thực hiện được các môn tu nầy, không thể bỏ qua được môn tu Thập Thiện Nghiệp. Thập Thiện Nghiệp như là nấc thang quan trọng cần phải vượt qua, nếu muốn trèo lên cao nữa. Nó như là cơ sở căn bản, hạ tầng vững chắc nhất, để xây dựng lau đài cao lớn lên trên. Vì lẽ đó, người ta nói Thập Thiện Nghiệp là cội gốc của tất cả các pháp lành thế gian và xuất thế gian.

Trong kinh Bồ Tát giới có nói: “Tất cả lục đạo chúng sinh đều là họ hàng ta, cha mẹ ta đã chết đi rồi sanh lại trong nhiều đời nhiều kiếp”.

Người hằng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật, và được mười pháp lành, như kinh Thập Thiện Nghiệp đạo đã nói, dưới đây:

a) Tất cả chúng sinh đều kính mến
b) Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sinh 
c) Trừ sạch thói quen giận hờn
d) Thân thể thường được khỏe mạnh
đ) Tuổi thọ được lâu dài
e) Thường được Thiên thần hộ trợ
ê) Ngủ ngon giấc và không chiêm bao dữ
g) Trừ hết các mối oán thù
h) Khỏi bị đọa vào ba đường ác.
i) Sau khi chết, được sanh lên cõi Trời.

Xem thêm bài Thập Thiện Nghiệp tại đây: http://www.wattpad.com/3826891-gi%C3%A1o-l%C3%BD-c%C4%83n-b%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%ADt-gi%C3%A1o-th%E1%BA%ADp-thi%E1%BB%87n-nghi%E1%BB%87p

Ở nước ta, người Phật tử đầu tiên là Chử Ðồng Tử, đời Hùng Vương thứ 18 (chấm dứt vào năm 258 BC) được nhà sư Phật Quang (còn gọi là sư Bần, người gốc Ấn Ðộ) truyền pháp, trao cho cây gậy và chiếc nón. Tích này được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái. Chử Ðồng Tử được thờ ở đền Trung, trong cụm đền thờ vua Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ và ở phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Chử Ðồng Tử là thương gia buôn bán đường sông, quen biết nhiều. Sau khi truyền pháp cho vợ là công chúa Tiên Dung, hai người bỏ hẳn việc buôn bán mà lo mở rộng việc truyền pháp.Mặt khác, cũng có những bằng cớ về việc phái đoàn truyền giáo dưới sự hướng dẫn của Sona và Uttara do vua A Dục (Asoka) phái đi đã tới nước ta. Nhân dân ta đã dựng Tháp tại thành Nê Lê ở núi Mẹ tại Ðồ Sơn để tạ ơn vua A Dục (269 BC- 232 BC) đã truyền Phật pháp tới Luy Lâu. Cho tới những năm 380- 420, những người lượm củi ở vùng núi Mẹ (Mẫu Sơn) còn thấy Tháp này.

Bước Ðầu Ðạo Phật Du Nhập Vào Nước Ta

Trần Tri Khách

Vì quan niệm lầm lẫn cho rằng nước ta bắt đầu có văn hiến là nhờ hai thái thú Tích Quang (năm 2) và Nhâm Diên (năm 24), lại thấy Kinh điển Phật giáo và nghi thức tụng niệm ở nước ta mang gốc gác chữ Hán, một số đáng kể các nhà biên khảo Phật giáo kết luận vội vã là đạo Phật du nhập vào nước ta từ Trung Quốc, bắt đầu vào thời Sĩ Nhiếp (cuối thế kỷ 1).

Thực ra mãi tới năm 67, khi vua Hán Minh Ðế (58- 76) nằm mộng thấy người vàng, cận thần Trương Nghị giải thích người vàng thân thể có hào quang bay trên không đó là người đắc đạo ở nước Thiên Trúc gọi là Phật; vua mới cử một phái đoàn qua nước Ðại Nhục Chi thỉnh được Kinh Tứ Thập Nhị Chương và mời được hai vị Tăng Ma Ðằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan. Trong mấy thế kỷ đầu, hoạt động của Phật giáo Trung Quốc chủ yếu là dịch Kinh, xây Chùa. Mãi tới năm 258 sư Châu Tử Hàng khai đàn, giảng Kinh Bát Nhã ở Kinh đô Lạc Dương, việc giảng pháp cho đại chúng Trung Quốc mới bắt đầu.

Ở nước ta, người Phật tử đầu tiên là Chử Ðồng Tử, đời Hùng Vương thứ 18 (chấm dứt vào năm 258 BC) được nhà sư Phật Quang (còn gọi là sư Bần, người gốc Ấn Ðộ) truyền pháp, trao cho cây gậy và chiếc nón. Tích này được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái. Chử Ðồng Tử được thờ ở đền Trung, trong cụm đền thờ vua Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ và ở phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Chử Ðồng Tử là thương gia buôn bán đường sông, quen biết nhiều. Sau khi truyền pháp cho vợ là công chúa Tiên Dung, hai người bỏ hẳn việc buôn bán mà lo mở rộng việc truyền pháp.

Mặt khác, cũng có những bằng cớ về việc phái đoàn truyền giáo dưới sự hướng dẫn của Sona và Uttara do vua A Dục phái đi đã tới nước ta. Nhân dân ta đã dựng Tháp tại thành Nê Lê ở núi Mẹ tại Ðồ Sơn để tạ ơn vua A Dục (269 BC- 232 BC) đã truyền Phật pháp tới Luy Lâu. Cho tới những năm 380- 420, những người lượm củi ở vùng núi Mẹ (Mẫu Sơn) còn thấy Tháp này. Thiền sư Mật Thể trong Việt Nam Phật giáo Sử Lược (tr. 69) cho biết từ năm 245 BC Trung Quốc và Ấn Ðộ đã giao thương với nhau qua cửa ngõ nước ta. HT Ðức Nhuận trong Ðạo Phật Và Dòng Sử Việt: vào thế kỷ 3 BC, phong trào di dân rộng lớn tại Ấn từ Kalinga sang phía Ðông rồi xuống Nam vì “cơn sốt ” mua bán vàng có thể đưa một số Tăng sĩ Ấn Ðộ theo thuyền buôn tới nước ta. Có thể sự thông thương giữa Ấn Ðộ và nước ta đã xảy ra trước đó khá lâu. Năm 135 BC, Hoài Nam Vương Lưu An dâng thư can ngăn vua Hán đừng đem quân đánh Nam Việt, có viết: Từ thời Tam Ðại, đất Hồ đất Việt không theo lịch pháp Trung Quốc. Thời Tam Ðại gồm nhà Hạ (2140 BC- 1711 BC), nhà Thương hay nhà Ân (1711 BC- 1066 BC) và nhà Chu (1066 BC- 256 BC). Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1) và Nhất Hạnh (VNPGSL 1), thời đó nước Văn Lang theo lịch pháp Ấn Ðộ (năm có 4 mùa, 12 tháng, tháng có 30 ngày).

Sự kiện dân ta gọi Thích Ca là BỤT, phổ thông trong ca dao còn truyền tụng tới ngày nay, là bằng chứng vững chắc khác cho thấy Phật giáo du nhập vào Việt Nam trước tiên qua ngả Ấn Ðộ

Phật là một từ do pháp sư Trung Quốc Huyền Trang tạo ra khi dịch Kinh Phật vào thế kỷ 7. Lê Mạnh Thát (Lịch Sử Phật giáo VN tập 1) còn đi xa hơn, đưa ra giả thuyết Lục Ðộ Tập Kinh trước tiên được dịch từ chữ Phạn qua chữ Việt cổ, Khương Tăng Hội đã tham chiếu bản dịch chữ Việt này để dịch qua chữ Hán.

Bằng chứng nữa: khi vua Tùy Văn Ðế (589- 601) phục hưng đạo Phật Trung Quốc rồi, muốn truyền bá Phật pháp tới Giao Châu,

Sư Ðàm Thiên tâu: Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc

Khi đạo Phật mới tới Giang Ðông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có hơn 20 ngôi bảo sát (Chùa), độ được hơn 500 vị Tăng, dịch 15 cuốn Kinh. Năm 255, Khương Tăng Hội (sau khi thọ đại giới tại nước ta) vào đất Ðông Ngô, lập am tranh thờ tượng Phật, bị quan chức Trung Quốc cho là kỳ lạ báo cho vua Ðông Ngô là Tôn Quyền. Nếu đạo Phật đã có mặt tại đây vào thời điểm này, có lẽ Khương Tăng Hội không bị những thử thách có thể mất mạng mới được phép hoằng dương Phật pháp.

Phật giáo tại nước ta đã có Chùa Liên Trì đã được xây từ thời Hùng Vương (trước 258 BC). Năm 544, vua Lý Nam Ðế dựng Chùa Khai Quốc trên nền cũ của Chùa Liên Trì. Chùa Trúc Viên ở núi Sài Sơn (tỉnh Sơn Tây) đã có mặt từ thời tể tướng Lữ Gia của nhà TRiệu (năm 110 BC). Ngôi Chùa đầu tiên tại Trung Quốc là Chùa Bạch Mã ở Kinh đô Lạc Dương xây cất khoảng năm 68 để làm chỗ Ma Ðằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan chứa Kinh và dịch Kinh do ngựa trắng chở từ nước Ðại Nhục Chi về.

Năm 39, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng đứng lên đánh đuổi tên thái thú nhà Hán tàn bạo Tô Ðịnh, sư cô Thiều Hoa rời khỏi Chùa, mộ được 500, trở thành tướng tiên phong của Trưng Vương. Trưng Vương dẹp xong 65 thành trì, thâu hồi độc lập cho đất nước, sư cô Thiều Hoa lại trở về Chùa làng Hiền Quan tiếp tục tu. Bà sinh năm 3, xuất gia năm 16 tuổi sau khi cha mẹ đều mất. Bà tịch năm 40. Năm 43, sau trận đánh cuối cùng ở Cẩm Khê, Hai Bà trầm mình xuống sông Hát, cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương chấm dứt, một số tướng lãnh của Hai Bà nương mình nơi cửa Phật. Trong đó có Bát Nàn Phu Nhân. Tướng nhà Hán là Mã Viện tiến hành một cuộc thanh trừng quy mô, thậm chí bắt lưu đày dân cả một vùng Ðông Việt vào đất Giang Hoài và tìm bắt các người có khả năng lãnh đạo mà y gọi là “chủ soái” lưu đày ra Linh Lăng. Phật giáo nước ta thời đó hẳn có tổ chức chặt chẽ mới che chở được những Tăng ni mới và tồn tại được sau chiến dịch đồng hóa quy mô và gắt gao của Mã Viện, một kẻ chưa hề nghe nói tới Phật.

Như vậy, Ni giới nước ta đã có mặt từ trước năm 39. Hẳn nhiên khi sư cô Thiều Hoa (còn gọi là Hoàng Thiếu Hoa) rời Chùa đi cứu nước mà chỉ trong thời gian ngắn mộ được 500 quân thì phải hiểu là đạo hạnh của Bà đã có sức thuyết phục đại chúng từ trước đó

Tại Trung Quốc, mãi tới năm 429 mới có một ni đoàn từ Tích Lan tới Kiến Nghiệp học chữ Hán để hướng dẫn ni chúng người Hoa.

Tăng đoàn nước ta cho tới cuối thế kỷ 2 đã được phát triển khá mạnh. Các đại sư và Kinh sách của trung tâm Luy Lâu ít nhất đã đào tạo được hai nhân vật kiệt xuất là Mâu Tử và Khương Tăng Hội.

Mâu Tử (khoảng 160- khoảng 230) người Thương Ngô, ham đọc đủ loại sách, thường đem Ngũ Kinh của Nho giáo ra vặn hỏi các Nho gia. Năm 180, thiên hạ loạn lạc, Mâu Tử đưa mẹ tới Giao Chỉ lánh nạn. Có lẽ ông bắt đầu để ý tới Phật pháp tại Luy Lâu từ năm 183. Năm 26 tuổi về Thương Ngô cưới vợ, lộ trình dài tới 5 ngàn dặm. Ít lâu sau mẹ mất, nghĩ thời thế nhiễu nhương, bèn dốc chí nghiên cứu đạo Phật tại Luy Lâu. Ông viết Lý Hoặc Luận năm 198 để trả lời những người quen biết chỉ trích ông phản bội Nho mà theo Phật. Theo Lê Mạnh Thát (Tổng tập Văn Học Phật giáo Việt Nam 1, tr. 26) Lý Hoặc Luận từng là sách gối đầu giường của giới học Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản. Ðây là sáng tác lý luận Phật giáo đầu tiên bằng Hán văn, trình Bày khả năng của Phật giáo có thể thay thế Nho Giáo trong mọi lãnh vực xử thế.

Khương Tăng Hội (khoảng 200- 280) sinh ra, lớn lên, xuất gia và được thọ giới theo nghi thức “Tam Sư, Thất Chứng”tại Giao Châu. Mối liên hệ Thầy trò trong Tăng đoàn thắm thiết tới mức nhiều năm sau khi ba Thầy tịch, Khương Tăng Hội vẫn còn thương tiếc. Tại Trung Quốc, tới năm 258 sư Ðàm Ma Ca La từ Trung Ấn tới Lạc Dương tổ chức truyền giới theo nghi thức “Tam Sư Thất Chứng”, nghi thức này mới được bắt đầu tại Trung Quốc. Năm 247 Khương Tăng Hội chống gậy, vân du qua Ðông Ngô (Trung Quốc) hoằng pháp. Pháp sư An Thế Cao, dịch giả Kinh An Ban Thủ Ý, ca ngợi ông là người giảng Kinh Thiền xuất sắc. Năm 258, vua Ðông Ngô Tôn Lâm phá Chùa, giết sư, bị Tôn Hạo giết rồi nối ngôi. Khương Tăng Hội góp công lớn phục hồi Phật giáo Ðông Ngô. Tại Ðông Ngô, ông dịch 14 quyển Kinh ra Hán văn, trong đó có Lục Ðộ Tập Kinh. Sư ông Nhất Hạnh suy tôn Khương Tăng Hội là tổ Thiền Tông Việt Nam, mặc dù phần đóng góp chính yếu của ông là cho Phật giáo Trung Quốc.

Khương Tăng Hội không phải là thí dụ duy nhất cho thấy từ khởi nguyên, Phật giáo VN đã là chỗ dựa của Phật giáo Trung Quốc. Ðầu thế kỷ 4, nhiều Tăng sĩ Trung Quốc tìm đến Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh) cầu học về Tịnh Ðộ, sau đó trở về Trung Quốc hoằng dương pháp môn này. Sư Ðàm Thiên (542- 607) sau khi thâu đạt về Duy Thức Học và Nhiếp Ðại Thừa Luận tại Luy Lâu đã giúp vua Tùy Văn Ðế phục hồi Phật giáo Trung Quốc

Tóm lại, từ khởi nguyên Phật giáo du nhập vào nước ta từ Ấn Ðộ. Phật giáo Ấn Ðộ đã truyền tới nước ta trước khi tới Trung Quốc. Trong những thế kỷ đầu, Phật giáo VN đã là chỗ dựa cho Phật giáo Trung Quốc.

Không dễ gì được sinh ra tại Việt Nam

Không dễ gì được sinh ra tại Việt Nam mà biết Phật Pháp

Không dễ gì được sinh ra tại Việt Nam, biết Phật Pháp mà tự nguyện phát tâm Quy Y Tam Bảo

Không dễ gì được sinh ra tại Việt Nam, biết Phật Pháp, mà tự nguyện phát tâm Quy Y Tam Bảo và biết tu theo hạnh Lục Độ Ba La Mật

Không dễ gì được sinh ra tại Việt Nam, biết Phật Pháp, mà tự nguyện phát tâm Quy Y Tam Bảo và biết tu theo hạnh Lục Độ Ba La Mật, trên cầu Quả vị Phật Vô Thượng Bồ Đề, dưới hạ hóa chúng sanh

Phần đông 2/3 dân số Việt Nam theo Đạo Phật, tuy số Phật tử đông như vậy và chưa thật sự hiểu hết giáo lý sâu xa vi diệu của đạo Phật, nhưng khả năng gieo duyên với các vị Thánh tăng, Bồ tát và Phật Di Lặc giáng sanh xuống Việt Nam là có khả năng rất lớn xảy ra. Tuy thế giới ngày nay chưa biết đến nhiều về Việt Nam đặc biệt về Đạo Phật (Tây Tạng được phương Tây biết đến nhiều hơn), nhưng Việt Nam sẽ phát triển vượt bậc trong tương lai rất xa. Một kiếp người không thể sống để chờ đợi cái kết quả đó xảy ra, mà phải chờ đợi trong nhiều trăm năm nữa, mà kiếp người thì thật ngắn ngủi

Nam Mô A-Di-Đà Phật

CÒN ĐÂY LÀ NHỮNG HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI THẾ GIAN, MANG MÀU SẮC HUYỀN BÍ KHÔNG THỂ NÀO GIẢI THÍCH NỔI.

Lịch sử Việt Nam thật sự thiếu sót rất lớn khi không tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo vốn gắn liền với lịch sử dân tộc hào hùng, vốn chỉ in đậm trong đầu óc chúng ta chỉ toàn là chiến tranh, mất mát và đau thương.

Chử Đồng Tử (chữ Hán: 褚童子) là tên của một vị thánh nổi tiếng, một trong “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng Việt Nam.Truyền thuyết về Tiên Dung-Chử Đồng Tử là một trong những huyền sử được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái kể về thời kì cổ xưa của nước Việt Nam.

Truyền Thuyết

Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Chử Xá huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (xã Văn Đức, huyện Gia Lâm ngày nay) (có bản viết là Chử Vi Vân. Theo “Việt sử Giai Thọai” của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo dục). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc khố phải thay nhau mà mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc xin ăn.

Thời ấy vua Hùng Vương thứ ba có cô con gái tên là Tiên Dung đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đến thăm vùng đó. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.

Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Nàng biết ý nên cùng chồng mở chợ Hà Thám, đổi chác với dân gian. Buôn bán tấp nập, phồn thịnh, ai cũng kính thờ Tiên Dung-Chử Đồng Tử làm chúa (Theo “Việt sử Giai Thọai” của Nguyễn Khắc Thuần-NXB Giáo dục). Một hôm có người bày cho cách ra ngòai buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên (có bản ghi là Quỳnh Vi – tham khảo “Việt sử Giai thọai” Chuyện kể Chử Đồng Tử) Đây là tên một ngọn núi chỉ có trong thần thọai), Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một đạo sĩ tên Phật Quang. Chử Đồng Tử bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.

Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dân hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.

Nghe tin, vua Hùng cho là có ý tạo phản, vội xuất binh đi đánh. Quân nhà vua đến, mọi người xin ra chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và từ chối không kháng cự cha mình. Trời tối, quân nhà vua đóng ở bãi Tự Nhiên cách đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì, cung điện và cả bầy tôi của Tiên Dung-Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời. Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn.

Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.

Link xem thêm

http://hoidisan.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=286:den-hoa-da-trach-va-truyen-thuyet-duc-thanh-chu-dong-tu&catid=39:di-tich&Itemid=34

Advertisements

Tác giả: HUỆ AN

Buddhist ĐẠI NGUYỆN: CHÚNG SANH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH GIÁC CHÚNG SANH HỮU TÌNH NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN NGUYỆN SANH TÂY PHƯƠNG TỊNH ĐỘ TRUNG CỬU PHẨM LIÊN HOA VI PHỤ MẪU HOA KHAI KIẾN PHẬT NGỘ VÔ SANH BẤT THỐI BỒ TÁT VI BẠN LỮ NGUYỆN HỒI HƯỚNG: NGUYỆN ĐEM CÔNG ĐỨC NÀY HƯỚNG VỀ KHẮP TẤT CẢ ĐỆ TỬ VÀ CHÚNG SANH ĐỀU TRỌN THÀNH PHẬT ĐẠO NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s